1. BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG BÀI THÁNH CA:

Như phần đầu chúng ta đã biết một trong những đặc tính của Thánh nhạc là tính phổ thông (universelle), nghĩa là bài Thánh ca, dù có tính dân tộc, thì cũng vẫn phải tuân theo những qui luật của nghệ thuật và của thánh nhạc, để bất cứ ai khi thưởng lãm cũng cho đó là có giá trị nghệ thuật, chứ không còn là một cái gì sơ khai, chưa phát triển. Giáo hội khuyến khích chúng ta đem những sắc thái riêng của âm nhạc mỗi dân tộc và Thánh nhạc, nhưng phải theo những quy luật chung của nghệ thuật.

Qui luật chung của nghệ thuât đòi hỏi bài hát phải đúng kỹ thuật sáng tác… phải đáp ứng chung cho nhiều cá nhân, có thể lưu truyền, nghĩa là có thể được truyền đi theo hàng dọc từ thế hệ này đến thế hệ kia (dân ca được đón nhận qua nhiều thế hệ và còn tiếp tục tồn tại, chẳng hạn) và theo hàng ngang từ nhóm này sang nhóm khác cùng thời (dân ca miền địa phương này được hát ở địa phương khác) và mọi người phải tôn trọng chúng, cho dù có thích chúng hay không, không thể bỏ qua được.

Điều khó, nhưng phải nổ lực đạt cho được, là làm sao hình thành được những sáng tác thánh nhạc thật sự là Việt Nam Công Giáo, nghĩa là khi những sáng tác đó được diễn xướng hay trình tấu, người ta nhận ra ngay đó là nhạc nhà thờ của cộng đoàn phụng vụ Việt Nam, nó vừa có tính cách nhạc thánh vừa có tính bản sắc dân tộc. Nói một cách cụ thể hơn, như các nhà truyền giáo Tây Phương ngay từ buổi đầu đã đem âm nhạc bình ca vào Việt Nam. Bình ca được hát bằng tiếng Latinh, giáo dân tuy không hiểu gì, nhưng cũng nhận ra âm nhạc đó là âm nhạc của riêng đạo mình; thì những sáng tác thánh ca với bản sắc dân tộc cũng phải gợi lên được cho người nghe và người hát hôm nay đó là "âm nhạc của riêng đạo Công Giáo ở Việt Nam, hay người Việt Nam".

Muốn làm được điều này cần phải hội nhập nhiều yếu tố. Theo ý kiến của nhiều người thì bản sắc dân tộc trong bài thánh ca đòi hỏi các yếu tố: ngôn ngữ dân tộc, tâm tình dân tộc, hình ảnh dân tộc và tiết điệu dân tộc. Nhưng trước hết là phải xem xét nhạc cổ truyền Việt Nam có điểm gì quá trần tục không hợp với đòi hỏi của phụng vụ, chúng ta phải gột rửa những điểm đó đi, và chỉ sử dụng một thứ âm nhạc đã được rửa tội (kiểu nói của Cha Hoàng Kim), nghĩa là giữa hai đặc tính thánh thiện và dân tộc thì chúng ta phải ưu tiên chọn lực đặc tính thứ nhất. Cả hai đặc tính này luôn bao hàm một nội dung phù hợp với giáo lý công giáo mà chúng ta đã bàn ở trong các phần trên.

  1. Ngôn Ngữ Dân Tộc:

Muốn sáng tác mới mang bản sắc dân tộc, trước tiên tôn trọng ngôn ngữ dân tộc, vì ngôn ngữ là gốc rễ của nhạc ngữ. Tôn trọng ngôn ngữ dân tộc là tôn trọng những đặc tính riêng biệt của tiếng Việt để khi hát lên vững giữ được sự trong sáng của ngôn ngữ Việt Nam. Tiếng Việt có một số đặc tính sau:

Còn nhiều đặc tính nữa như giàu cảm xúc, giàu nhạc tính, tượng thanh, tượng hình v.v…. chúng ta cũng cần quan tâm học hỏi. Sau đây là mấy điểm cần lưu ý khi viết phần lời cho bài ca:

1. Dùng cách tu từ Việt Nam:

Nên đọc nhiều và nghiên cứu về ca dao để thấm nhập cách nói của ca dao, như:

Thí dụ: Sóng sầm sịch lưng chừng ngoài bể bắc

Hạt mưa tình rỉ rắc chốn hàng hiên…

Chiếc buồm nho nhỏ
Ngọn gió hiu hiu…
Xuống ghềnh, lên thác
Một lòng ta thương nhau.

Thờ Cha Mẹ, ở hết lòng,
Ấy là chữ hiếu, dạy trong luân thường.
Chữ nghĩa là nhường,
Nhường Anh nhường Chị là nhường người trên,
Ghi lòng tạc dạ chớ quên,
Con em phải giữ lấy nền con em.

Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.

Áp dụng cách dùng từ của ca dao, hay cách nói của ca dao, nhiều nhạc sĩ đã viết:

"Rừng xanh chập chùng bao nhiêu lá
Con yêu Mẹ bấy nhiêu lần
Biển khơi dạt dào bao nhiêu sóng
Con yêu Mẹ bấy nhiêu…"
(Mẹ ơi! – Hải triều)

"Bao nhiêu….bấy nhiêu" là cách nói của ca dao và thể hứng (nhân một việc này nói đến một việc kia):

Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu.

Trong phép so sánh, ca dao dùng những hình ảnh tương đối ước lệ, nhiều khi đến độ khuôn sáo, nhưng tạo được bản sắc Việt Nam: cao thì cao như thái sơn (điểm này lưu ý: khi so sánh như thái sơn, là cao không thể đo được, nên có nhiều nơi đổi câu hát "bài ca dâng hiến" của Trầm Hương thành: Tình ngài cao hơn thái sơn, việc làm đó làm mất đi tính văn chương của hình ảnh thành ngữ: cao như thái sơn của dân ca); nhiều thì như lá trên rừng (như sao trên trời, như cát dưới biển: bài "cát biển sao trời" của Phanxicô); thắm như son; tinh trắng như đoá sen hồng; ngọt như đường mía lau, phúc ân dạt dào như mưa móc; nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa v.v…

Trong phép tượng trưng, ca dao dân ca cũng có những hình ảnh tượng trưng riêng biệt, đặc thù của dân tộc. "Bến" là nơi an nghĩ, là cứu cánh ("Bến Thiên Đàng" của Hải Triều); "Trầu Cau" chỉ nghĩa vợ chồng; "sen" chỉ sự thanh cao; "cội nguồn" chỉ tổ tiên; "thác ghềnh" chỉ sự gian khó; "trăng rằm, trăng đầy" chỉ sự sung mãn, viên mãn ("cho tình tôi nguyên vẹn tựa trăng rằm" của Nguyễn Duy); "Chim liền cánh", chỉ sự gắn bó v.v…

Từ ngữ sử dụng cũng mang sắc thái riêng của văn hoá Việt Nam: Thủy chung, một lòng một dạ (trung tín) ("thủy chung, chung thủy vuông tròn, tình trời nghĩa đất vuông tròn thủy chung" – Tình Trời Đất của Viết Chung); bấy nay (từ trước đến nay); cõi người ta (cuộc đời: Trăm năm trong cõi người ta); chẳng nao (không sờn lòng); đố ai (ai có thể); qua cầu (trải qua đoạn trường ai có qua cầu mới hay); bể dâu (thay đổi: trải qua một cuộc bể dâu). Có những từ chắc chỉ có người Việt Nam hiểu được: mình (mình với ta tuy hai mà một…) ai (nhớ ai ra ngẫn vào ngơ….) cái nghĩa, cái tình, cái duyên…..

Chúng ta cũng nên nhớ rằng hầu hết các bài dân ca cổ truyền đều xây dựng trên lời ca là thơ lục bát cộng với những tiếng đệm, lót (vì như trên ta đề cập dân ca thường bắt nguồn từ ca dao). Do đó đặt lời ca theo thơ lục bát hay song thất lục bát cũng là một cách mặc cho bài thánh ca bản sắc dân tộc.

Thí dụ: Bài "Kìa Ai" của Vinh Hạnh (rất tiếc nhạc thì lại Âu Châu tính) hoặc "Hồng ân Thiên Chúa bao la" v.v….

2. Dùng nhiều thành ngữ Việt Nam:

Việt Nam có kho tàng thành ngữ rất phong phú và được sử dụng nhiều cả trong cách ăn nói thường ngày. Dùng thành ngữ khi đặt lời ca vừa cô đọng, súc tính (nói ít hiểu nhiều), vừa đậm đà bản sắc dân tộc, mà lại bóng bảy, nhưng ý nghĩa chưa được vững chắc vì "thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dụng mà diễn một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè".

      Thí dụ: Hoa ơi hãy nỡ cho đầy
      Muôn hồng nghìn tía hương ngát tỏa bay.
      (Viết Chung)

      Xin dâng (lên) của lễ đầu mùa
      Hoa thơm trái chín mong chờ bấy nay….
      Xin dâng (lên) của lễ đầu mùa
      Sương phơi nắng dãi mịt mờ tháng năm.
      (Viết Chung)

      Xin dẫn đưa qua
      Những ngày gió lộng mưa sa.
      (Phanxicô)

      Nhạc sĩ Phanxicô đã sưu tầm một số thành ngữ quen thuộc như sau:

      Hoa thơm trái chín; muôn hồng nghìn tía; sương phơi nắng dãi; gió lộng mưa sa; tu thân tích đức; như núi thái sơn; như nước trong nguồn, hoa thơm cỏ lạ,; tình sâu nghĩa đầy; nghĩa nặng tình thâm; ơn cao nghĩa dày; chân cứng đá mềm; chân trời góc biển; chớp bể mưa nguồn, dãi nắng dầm mưa; bội nghĩa vong ân; thuận vợ thuận chồng; kẻ ở người đi; mồ hôi nước mắt; đi sớm về trưa; đi ngược về xuôi; lên thác xuống ghềnh; lội suối trèo non; gần đất xa trời; kính trên nhường dưới; nay đợi mai chờ; rày nắng mai mưa; ngậm đắng nuốt cay; tóc bạc răng long; xe tơ kết tóc; lá rụng về cội; nước chảy đá mòn; như lá trên rừng; biển sâu khôn dò; như chim liền cánh; như cây liền cành; tơ hồng; vẹn câu thề; một lòng một dạ; gắn bó keo sơn; thay lòng đổi dạ; ở hiền gặp lành; lấy ân báo oán; quê cha đất tổ; thuận buồm xuôi gió; tát cạn Bể Đông; qua cầu đắng cay; thức khuya dậy sớm; trời cao bể rộng; vật đổi sao dời; hạt cơm manh áo; trên thuận dưới hòa; nước chảy hoa trôi; trong ấm ngoài êm; tơ vò chín mối; chia ngọt xẻ bùi; ngày qua tháng lại; thờ mẹ kính cha….

3.Viết đúng ngữ âm của từng miền:

Vấn đề dấu trong tiếng Việt rất quan trọng khi đặt lời cho những bài ca mang màu sắc địa phương như: Nam bộ, Quan họ Bắc Ninh, Nghệ Tĩnh, Huế… Muốn lột tả được sắc thái của địa phương nào thì ngoài phần nhạc phải mang phong cách của địa phương đó, lời ca cũng phải mang cách phát âm về dấu của người dân nơi đây. Thí dụ: "những" (Bắc) sẽ thành "nhửng" (Nam) và "nhựng" (Trung).

Riêng giọng Nam nên lưu ý những đặc điểm ngữ âm sau:

Thí dụ: "Tình mãi bao la" nên đổi thành " tình vẫn bao la" để có âm "v" là âm rất đặc trưng của giọng Nam.

i à tình
a à bánh
e à phen
ê à lên
o à son
uôi à đuối
â à dâng

  • Các âm cuối đặc biệt:
  • ăt à phát âm là ăc (sắt à sắc)
    n à phát âm là ng (son à soong)

    Dấu ngã thành dấu hỏi: Những ngày à nhửng ngày
    Dấu nặng thành dấu hỏi: cỡi ngựa à cởi ngửa

  • Khi viết ca khúc cho giọng Nam Bộ, lưu ý dùng nhiều từ có mang những đặc điểm trên và lấy phần nhạc cho hợp với cách phát âm về dấu của giọng.

  • Thí dụ về dấu (hỏi, ngã, Nặng):

     

    4. Những cách thích ứng lời ca với dòng nhạc:

    Bài ca theo lối dân ca thường có lời xây dựng trên cấu trúc thơ lục bát, tất cả gồm 14 chữ (1 câu 6 chữ và 1 câu 8 chữ), khi dệt nhạc để duy trì luật cân phương, hoặc để thích ứng với giai điệu hoặc muốn làm nổi bật một ý nào đó của ca từ, thì với những nhạc sĩ tài năng và nhiều kinh nghiệm (như nhạc sĩ Viết Chung) thì họ có trăm ngàn cách để làm công việc thích ứng đó. (Theo ngôn ngữ sáng tác thì khó cách mấy họ cũng xoay sở một cách dễ dàng). Xem xét các bài dân ca cổ truyền và một số kinh nghiệm, linh mục nhạc sư Tiến Dũng đã đưa ra một số phương cách để thích ứng bản văn tiếng Việt với dòng ca, như sau:

    1. Thay các chữ đồng nghĩa khác dấu:

    TD: - Thay chữ ca tụng bằng chữ chúc tụng

    - Thay chữ chân lý bằng chữ sự thật

    1. Đảo lộn những chữ kép:

    TD: - Muôn đời muôn kiếp à muôn kiếp muôn đời

    - Bình an à an bình; từ nhân à nhân từ

    1. Lặp lại một vài chữ của câu văn, câu thơ:

    TD: Thương con thuở rất xa vời (là vời)

    1. Từ khi chưa có (í a) mặt trời mặt trời trăng mặt trăng. (Cao vời khôn ví)

    1. Đảo lộn câu thơ:

    TD: Đố ai quét sạch lá rừng

    Để tôi khuyên gió, gió đừng rung cây

    à Quét sạch lá rừng đố ai - đố ai quét sạch ư lá lá rừng…

    1. Hoặc thêm những chữ đệm:

    Cũng theo LM Tiến Dũng, trong dân ca thường hay dùng các chữ đệm, những loại chữ đệm đó như sau:

    * Những nguyên âm thêm vào để ngân, láy, lướt: Tiếng Việt, mỗi chữ có một vần, không có vần đọc nổi, và rất nhiều chữ tận bằng một phụ âm, nên khi muốn cho bài hát láy lướt, thì nhạc sĩ cho láy lướt trên một nguyên âm nào đó được thêm vào

     

    Một vài ghi nhận trên cho ta thấy, khi dệt nhạc, nhờ có các tiếng đệm, lót, làm cho dòng ca duyên đáng hơn, đáp ứng tính ngân nga của "ca" khác với "đọc". Chắc chắn từ lời thơ chuyển sang ca từ xem ra có vẻ dài dòng hơn như trong thí dụ sau:

    Câu thơ lục bát:

    Trúc xinh trúc mọc bờ ao,

    Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh

    Khi được hát thành làn điệu, sẽ là:

    Cấy í trúc xinh tang a tình là cây trúc

    Mọc qua lới nọ ao bờ ao

    Em xinh tang tình em đứng, đứng nơi nào

    Qua lới xinh cũng xinh.

    Nhưng trong làn điệu dân ca khi hát lên cũng không còn phân biệt những tiếng đệm ấy nữa, trái lại mang đậm nét dân tộc và có một hiệu quả nghệ thuật rất cao.

    Ở đây để giúp thêm hiểu biết về dùng chữ đệm, chúng tôi xin trích dẫn nhận xét của học giả Vũ Ngọc Phan như sau:

    "….Tuỳ theo từng loại dân ca, người ta thêm vào những tiếng đệm lót, như: tình bằng, tang tình, ấy mấy,… những tiếng đệm nghĩa như: ấy ai, em nhớ,…. những tiếng đưa hơi, như í, ì, i, ới ai, hì hi, …. Những tiếng láy tức những tiếng nhắc đi nhắc lại trong một câu, những điệp khúc (nhắc lại cả câu, cả đoạn).

    Đặc điểm của những tiếng đệm ấy cấu tạo nên những giai điệu riêng biệt của từng loại dân ca. Nội dung dân ca cũng như nội dung ca dao, chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện nội tâm của tác giả, cảm xúc của tác giả trước ngoại cảnh. Nhiều bài ca dao vẫn giữ nguyên nội dung, khi xây dựng thành dân ca, người ta chỉ thêm vào những tiếng đệm (đệm lót và đệm nghĩa) tiếng đưa hơi, tiếng láy và điệp khúc; có như vậy mới phổ được vào nhạc.

    Thí dụ mấy câu dân ca sau này khích lệ chí làm trai:

    Làm trai quyết chí tu thân
    Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo
    Khi nên, trời giáp công cho,
    Làm trai năm liệu bảy lo mới hào

    Khi xây dựng bài ca dao này thành dân ca, người ta thêm vào những tiếng đệm, tiếng láy theo yêu cầu của đệm hát. Thí dụ "hát cách" thì bài trên hát như sau:

    Quyết chí tu thân ,
    Công danh là danh chớ vội chứ đã nợ nần… không lo

    Ở mấy câu trên này, mà ớ, chứ đã là những tiếng đệm; là danh là tiếng láy.

    Hay những câu ca dao sau đây:

    Trống cơm khéo vỗ nên vông,
    Một bầy con sít lội sông đi tìm,
    Thương ai con mắt lim dim,
    Một bầy con nhện đi tìm giăng tơ.
    Thương ai duyên nợ tang bồng…

    Muốn cho bài ca dao trên đây thành khúc điệu của hát quan họ Bắc Ninh, phải thêm vào như sau:

    (Tình bằng) có cái trống cơm, khen ai khéo vỗ (ấy mấy) vông nên vông (ấy mấy) vông nên vông
    Một bầy, (tang tình) con sít lội lội sông (ấy mấy) đi tìm
    Em nhớ thương ai đôi con mắt (ấy mấy) lim dim
    Một bầy (tang tình) con nhện (i ới a, ấy mấy) giăng tơ, giăng tơ (ấy mấy) đi tìm.
    Em nhớ thương ai, duyên nợ khách tang bồng….

    Ở những câu trên này, tình bằng, tang tính, ấy mấy là những tiếng "đệm lót"; có cái, khen ai, đôi (đôi con mắt) em nhớ, khách là những tiếng "đệm nghĩa"; những tiếng vông nên vông, lội lội là "tiếng láy", còn i ới a là "tiếng đưa hơi".

    Áp dụng những thủ đoạn nghệ thuật vào những câu ca dao chưa thành khúc điệu là theo yêu cầu của từng loại dân ca"

    Những điều lưu ý: (Trong phạm vi thánh nhạc):

    Thí dụ: Bài hái hoa (Dân ca Sơn tây)

    Hỡi bạn đường xa hái hoa ừ cho khéo …

    Có nhạc sĩ đã viết thành bài "Lộc trời Phúc người" với lời ca:

    Phúc người cùng đinh phúc cho người….

    Vấn đề chêm những chữ đệm vào bản văn, trước hết là nhu cầu để thích ứng bản văn với dòng ca, thì các nhạc sĩ lại làm cho nó trở thành một yếu tố nghệ thuật. Vì nghệ sĩ thường dùng một loại trợ từ nào đó cho một bài ca, và như vậy làm cho bài ca đó khác với bài ca khác. Đó là tính cách độc sáng của một tác phẩm. Và vì dùng một loại trợ từ cho một bài ca, thì trợ từ đó còn đem lại cho bài ca tính cách đồng nhất từ đầu tới cuối. Thí dụ bài "Trống cơm"; bài "Se chỉ luồn kim"v.v… Theo Cha Tiến Dũng, phải chêm vào bản văn những chữ phù hợp với từng loại ca, như: hò đò thì có những chữ đệm: khoan, ali hò hơ, dô khoan do hậy, hụ là khoan, v.v…, loại hát huê tình có những chữ đệm: tình bằng, tình như, tình bằng bằng ơi, tình tang, v.v…; bài hát ru con: bồng ơi, cái bống ơi, à ơi, v.v… Do đó, mặc dù bài ca mang tính dân tộc, nhưng trong khung cảnh nghiêm trang của Phụng vụ, khi đặt lời ta phải gạn đục khơi trong, không nên dùng những tiếng đệm trong hát hò, loại huê tình như hò khoan, tình bằng, tình tang, ố mấy… thường trong các cung kinh, sách hay vãn dâng hoa, người ta thường dùng nguyên âm i, u, ư. Tốt hơn cả nên ngâm chính xác với âm của từng từ ngữ theo qui tắc của ngữ học.

    Trong vấn đề này, LM nhạc sĩ Xuân Thảo có một số ý kiến:

    "Một số sáng tác mới, giai điệu đã ó vận dụng điệu thức dân ca, nhưng các bè khác lại rơi vào mấy khuyết điểm:

      1. Hát trẹo dấu giọng tiếng Việt (đây là tính dân tộc cơ bản mà thiếu có thì giống như xây nhà trên cát vậy).
      2. Hát trẹo dấu thường lại do quá ham hòa âm rậm rạp. Nếu viết thoáng mỏng sẽ có lợi nhiều mặt.
      3. Cũng vì ham hòa âm, thành ra dùng nhiều hợp âm không phù hợp, dễ phá nét nhạc du dương âm hưởng dân tộc ở giai điệu, giống như ở trên đầu đội khăn đóng, dưới mặc bộ veste vậy."

    Sau đó, ngài đưa ra một số đề nghị, chúng tôi thấy cũng là một gợi ý hay cần tham khảo, có thể chưa đầy đủ.

    "Tôn trọng ngôn ngữ dân tộc, không những trong giai điệu, trong nhạc đề mà ở cả các bè hòa âm khác.

    Vận dụng sáng tạo cách sử dụng điệu thức cũng như cách biến cải lời ca của dân ca".

    Sau khi đã lược qua phần lời, chúng ta còn phải quan tâm phần nhạc. Đây là phần quan trọng không kém phần trên. Về nhạc, đến nay chưa có ai dứt khoát hệ thống hóa một hướng đi nào. Nhưng qua các bài dân ca chúng ta có thể hình dung ra một vài nét tiêu biểu của ca nhạc cổ truyền Việt Nam.

    1. Điệu thức dân tộc:

    Như trên chúng ta đã nói, cho tới nay chưa có một tài liệu nào trình bày đầy đủ và hoàn chỉnh tất cả vấn đề một cách sâu rộng và có hệ thống về nhạc cổ truyền Việt Nam. Vì thế, chúng tôi chỉ tổng hợp lại một số ý kiến của các bậc thầy như linh mục nhạc sư Kim Long, Tiến Dũng, của một số nhà nghiên cứu, phân tích một số bài đã được ký âm, một số bài thánh ca mang âm sắc dân tộc, để đưa ra một vài đường nét chính về phương diện nhạc trong kho tàng âm nhạc dân tộc.

      1. Tính tương đối:
      2. Nhạc cổ truyền Việt Nam bao gồm nhiều sắc thắc khác nhau tùy theo địa phương: miền Bắc khác, miền Trung khác, miền Nam khác; mỗi miền lại phân biệt một kiểu cách hát riêng (như Sơn Tây, Bắc Ninh ở miền Bắc; Huế, Bình Trị Thiên, Nghệ An ở miền Trung; Hậu Giang, Kiên Giang ở miền Nam); đấy là chưa kể đến các nét nhạc riêng của các dân tộc miền núi. Nhưng theo cảm nhận của nhiều người thì các bài hát dân ca và âm nhạc của các dân tộc ở miền núi, hay muiền xuôi nước ta đều không có những âm thanh rơi đúng vào 7 nốt của nhạc phương Tây, âm thanh cứ lửng lơ, nhiều khi rất gần với tiếng động của thiên nhiên, mà không chính xác mi là mi, la là la… vì thế việc sử dụng bảy nốt do, re mi, fa, sol, la, si, hay năm cung hồ, xự, xang, xê, liu, để ghi các bài hát và nhạc tuyền thống dân tộc, mức độ chuẩn về âm thanh đều là tương đối. Nhưng vì âm nhạc còn là một khoa học cho nên ngày nay, người ta cũng đã đưa ra một số quy tắc chung.

      3. Cao độ của mỗi cung:
      4. Ngày nay hầu hết nhận cách ghi theo cao độ các âm không phải dùng tới các dấu hóa âm:

        Như vậy khi diễn xướng, ta chỉ cần lưu ý tới cao độ tương đối giữa các âm mà thôi.

      5. Thang âm:
      6. Có những thang âm đã có sẳn, như những thang âm trưởng hay thứ của âm nhạc Âu Châu cổ điển; hoặc những thang âm vừa có sẵn, vừa tự mình tìm ra như những thang âm dân tộc.

        Theo chu kỳ các quãng 5 (theo luật dội âm) mà có thay âm. Ta có một số thang âm đặc biệt như:

         

         

         

      7. Sự biến đổi của thang âm:
      8. Thang âm ngũ cung ở trên là hơi Bắc, còn hơi Nam có thay đổi:

        * Hơi Nam:

         

        Thí dụ: bài "Gió mùa Thu", dân ca Nam bộ

        * Hơi Nam: đôi khi sử dụng thang âm có dấu giáng (b) ở nốt mi:

         

        * Thang âm Hò mái đẩy: Phạm duy ghi lại như sau:

         

      9. Vấn đề Âm thể (mode):

    Theo Cha Kim Long, với 5 nốt của thang âm chính, khi sử dụng có thể lần lượt dùng mỗi nốt làm trụ, trổi vượt và lôi hút các nốt khác, tạo ra khoảng cách về cao độ khác nhau tính từ nốt trụ đó, các học giả thường gọi là các dạng của thang âm:

     

    Áp dụng việc hình thành các thể theo Bình ca, ta có thể nói: nhạc cổ truyền Việt Nam được xây dựng trên 4 thể, với 4 chủ âm: Do, Re, Fa, Sol, với thống âm là nốt quãng 5 (tính theo nhạc Tây phương). Riêng nốt La, vì không có thống âm, nên nét nhạc khởi từ La thường thì diễn tiến và phát triển quanh nốt Re. Nên ta có thể coi là thể bình điệu của Re:

     

     

    Xin xem các thí dụ trong các bài;

    Thể RE: Bắt ốc (Hát ghẹo–Dân ca Phú thọ) – Chính điệu

    Ví Phường Vải (dân ca Hà Tĩnh) – Bình điệu

    Thể FA: Se chỉ luồn kim – Chính điệu

    Đèn Cù – Bình điệu

    Thể SOL: Quyên rằng – Chính điệu

    Cây Trúc xinh – Bình điệu

    Hát ru (Đồng bằng Bắc bộ) – Bình điệu

    Thể DO: Trống quân – Chính điệu

    Lý Hoài Nam (Dân ca Quảng trị) – Bình điệu

    + Nhận xét về các thể: (theo ý kiến của Lm. Kim Long)

    + Vấn đề ký âm: Nếu ký âm theo những nốt qui định trên đây, cũng như Bình ca, bài hát có thể rất cao hay rất thấp, cho nên trong thực tế người ta thường áp dụng lối chuyển dịch của nhạc Tây phương để ký âm ở âm vực trung bình, nên có xuất hiện các dấu thăng giáng và hai nốt Si – Mi của thang âm Tây phương. Khi phân tích ta phải chuyển dịch lại theo cao độ qui định.

      1. Chuyển biến (chuyển Hệ, hay chuyển Dạng):

    Về vấn đề này, linh mục Kim Long đưa ra 3 khía cạnh và những thí dụ để so sánh:

    Thí dụ: LÝ NGỰA Ô

    Qua những ý kiến trên đây, chúng ta thấy kho tàng âm nhạc cổ truyền Việt Nam đã để lại cho chúng ta cũng khá nhiều thang âm điệu thức. Điều quan trọng là chúng ta phải biết cách sử dụng như thế nào để bài hát có bản sắc dân tộc, có tính sáng tạo (mới mẻ) và phù hợp với đặc tính của thánh nhạc mà Phụng Vụ Giáo hội đòi hỏi. Trong dân ca cha ông chúng ta đã hát bằng thang ngũ âm với ba điệu thức chứ không dùng cả năm như ở Trung Hoa. Một điệu thức vui gần giống như điệu thức trưởng của thất âm; buồn tương đương với điệu thức thứ Tây phương, và một điệu thức tạm gọi là "xuân" hoặc "mừng", có tính cách hùng tráng, khải hoàn, vui buồn lẫn lộn nhưng vui nhiều hơn buồn. Theo Cha Xuân Thảo, người công giáo đã dùng ba điệu thức đó cho ba mùa vui (Giáng sinh), mùa Thương (mùa Vọng, mùa Chay) và mùa Mừng (mùa Phục Sinh). Trong ngũ âm ngoại thường, có điệu oán trong dân ca miền Nam với năm biến thể, cho năm tính cách ai oán khác nhau. Ngoài ra chúng ta cũng cần quan tâm cách dùng cung bậc, luyến láy, rung vỗ khác nhau trong mỗi điệu thức, cách chuyển hơi, chuyển hệ (chuyển điệu) và chuyển vị (chuyển giọng) cũng khác nhau; nhất là để ý tiết tấu có thay đổi (những chỗ đảo phách, nghịch phách) nhưng vẫn nhẹ nhàng, thoải mái và bình thản.

    1. Những dấu hiệu quan tâm đến bản sắc dân tộc trong bài thánh ca;

    Là người Việt Nam chân chính, ai cũng muốn có một cái gì riêng biệt, đặc trưng của dân tộc mình trong lĩnh vực âm nhạc nói riêng và các lãnh vực khác nói chung, bởi vì "ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn". Mà âm nhạc nhà – âm nhạc cổ truyền – có rất nhiều nét độc đáo, nghệ thuật. Mỗi bài dân ca đều thể hiện cách cảm, cách nghĩ, cách lý của chính chúng ta. Đó là cái vốn quí báu, là cơ sở cho mọi sáng tạo âm nhạc hiện đại, là nguồn gợi hứng vô tận.

    Không nói đến những năm xa xưa hồi thập niên 20, 30 của thế kỷ 20, mà chỉ nói đến khoảng những năm gần đây, chúng ta thấy cả đời, cả đạo đã biết khai thác kho tàng âm nhạc dân tộc cho những sáng tác mới. Điều đó cho thấy, chỉ riêng người Việt Nam (chưa kể đến những người nước ngoài) ngày càng yêu mến và thích ứng dòng nhạc dân tộc nhiều hơn trong cuộc sống âm nhạc.

    Ở phạm vi đời, những ca khúc mang âm hưởng dân tộc khá nhiều và được nhiều người ưa chuộng. Ngoài Phạm Duy, Nguyễn Văn Tý, chúng ta còn thấy Phú Quang với "Trên đỉnh Phù Vân", Trần Long Aån " Mừng tuổi Mẹ", Nhất Sinh "Chim Sáo ngày xưa…

    Đương nhiên chúng ta còn phải trân trọng nhắc đến những công trình nghiên cứu biên soạn của Lê Giang Lư Nhất Vũ về các bài dân ca của các địa phương trong cả nước Việt Nam.

    Trong nhà đạo, càng ngày càng có nhiều nhạc sĩ quan tâm hơn việc viết ca khúc đậm đà bản sắc dân tộc. Hùng Lân, Hải Linh là những người có công rất lớn trong những bước đi đầu tiên khi thích ứng âm hưởng âm nhạc dân tộc trong thánh nhạc. Sau này hai khuôn mặt có nhiều sáng tác thánh ca dân tộc được nhiều người đón nhận đó là nhạc sư Viết Chung và nhạc sĩ Phanxicô (tức Nguyễn Đình Diễn). Thực ra đó đây người ta thấy xuất hiện nghiều bài thánh ca có chất dân tộc của nhiều tác giả khác nhau, mỗi bài mỗi rẻ, mười phân vẹn mười.

    Theo chúng tôi, cần có nhiều sáng tác thánh ca cho các dịp lễ Truyền thống dân tộc, như Tết Nguyên Đán, tết Trung Thu; lễ Cưới (Thánh lễ hôn phối). Vì hai lý do: một là những lễ này có đặc tính dân tộc, để thể hiện phong tục tập quán và tính cách lễ hội; hai là những lễ này thường là những dịp anh em ngoài công giáo có duyên cớ đến tham dự, nên nhờ âm nhạc truyền thống mà sự gặp gỡ thêm thân mật và đồng cảm hơn.

    Chắc chắn đây là một công việc còn nhiều khó khăn, bởi vì việc thích ứng nhạc dân tộc Việt Nam rất phức tạp: một đàng không phải tất cả các hình thức âm nhạc cổ truyền, âm nhạc địa phương đều tương hợp với giá trị Phúc Âm đàng khác việc xác định các giá trị của nhạc cổ truyền không đơn giản, xét vì trước đã tiến kỹ thuật hôm nay, các quan điểm, lối sống, nhịp sống, tập tục thay đổi rất mau lẹ: việc trở về với âm nhạc cổ truyền đôi khi bị coi là đi ngược dòng lịch sử tiến hóa. Đàng khác, Kitô giáo cũng có khả năng tạo ra một tâm thức, một lối sinh hoạt, một nền văn hóa mới. Cũng còn một vấn đề khác nữa, là việc trung thành với truyền thống (kho tàng thánh nhạc của giáo Hội – Bình ca – và kho tàng âm nhạc dân gian của dân tộc Việt Nam) và sự tự do bộc phát cần thiết của việc sáng tác cho cử hành phụng Vụ thánh nhạc làm sao đã có thể dung hòa được. Bởi vì Thiên Chúa muốn chúng ta thờ phượng Người trong tinh thần và chân lý.

    Nhưng dù sao đi nữa "Ngôi Lời đã làm người và đã ở giữa chúng ta", nghĩa là Thiên Chúa đã nhập thể hướng dẫn cho việc Hội Nhập Văn Hóa của Kitô giáo, hội nhập tin mừng Đức Kitô vào các nền văn hóa ở mọi thời mọi nơi, cho mọi dân tộc có những màu da, tiếng nói, truyền thống, phong tục, tập quán khác nhau. Giáo hội tiếp tục sứ mạng của Đức Kitô đã mời gọi và khuyến khích các nhạc sĩ nỗ lực thích ứng âm nhạc dân tộc vào Phụng Vụ hầu đóng góp vào kho tàng thánh ca chung của các dân tộc khác. Điều quan trọng là để có những dấu hiệu khởi sắc qua những cố gắng của các nhà chuyên môn nghiên cứu và áp dụng đưa những nét tinh hoa của âm nhạc truyền thống vào thánh nhạc. Bước khởi đầu đã có, cần được đẩy mạnh hơn nữa.