PHẦN BỐN:

BẢN SẮC DÂN TỘC

TRONG BÀI THÁNH CA

Trong buổi hội thảo lần thức 2 do UBTN toàn quốc tổ chức ngày 21 tháng 05 năm 1996, ở phần giải đáp thắc mắc cho vấn đề Hội Nhập Văn Hóa dân tộc trong thánh nhạc, Đức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa đã trả lời "Hội Nhập Văn Hóa dân tộc trong thánh nhạc là một vấn đề lớn cần phải có những công trình nghiên cứu nghiêm túc trước khi đi đến những áp dụng cụ thể".

Thật vậy, Hội Nhập Văn Hóa văn tộc hay đưa bản sắc dân tộc vào thánh ca là một vấn đề mà nội dung rất mênh mông và phức tạp. Biết rằng đây là một vấn đề được Hội thánh đề ra và các giáo hội địa phương cần đáp ứng để dần dần thích nghi âm nhạc phụng vụ cho hợp với tâm tính và não trạng của các dân tộc. Thế nhưng để có thể trình bày và thực hiện việc Hội Nhập Văn Hóa trong phụng vụ nói chung và thánh nhạc nói riêng, thì " không những phải thông thạo những gì liên quan đến phụng vụ (và thánh nhạc) nhưng còn phải hiểu biết những yếu tố văn hóa, những tập tục của địa phương, tâm thức của dân tộc mà mình muốn hội nhập vào phụng vụ". Tuy nhiên không thể vì vấn đề mênh mông và phức tạp, đòi hỏi nhiều khả năng chuyên môn, mà chúng ta bất động. Giáo hội vẫn luôn mời gọi mỗi người có hiểu biết và có khả năng về âm nhạc phụng vụ phải nỗ lực góp phần trong công trình chung xây dựng được một con đường Hội Nhập Văn Hóa dân tộc trong thánh nhạc theo đúng tinh thần Giáo hội. Vì thế cũng cần phải quan tâm đến vấn đề này, vấn đề đã được nhiều người thao thức. Dĩ nhiên công việc nhỏ bé của chúng tôi chỉ là tổng hợp và giới thiệu những gì liên quan đến Hội Nhập Văn Hóa mà nhiều văn kiện, nhiều sách báo….đã đề cập, để cùng nhau suy nghỉ.

  1. TÌM VỀ "BẢN SẮC DÂN TỘC":

Trước khi đi vào lãnh vực Hội Nhập Văn Hóa dân tộc trong âm nhạc phụng vụ, có lẽ chúng ta cũng cần điểm qua tình hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật đang diễn ra trên đất nước Việt Nam nói chung và ở Thành phố chúng ta nói riêng, để nhờ đó giúp chúng ta ý thức rõ hơn vấn đề.

Theo giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê nhận định: trong những năm gần đây phong trào về nguồn trên đất nước Việt Nam được các cơ quan có thẩm quyền, báo chí cổ động, khuyến khích được thanh niên hoan nghênh, ứng dụng trong những buổi hòa nhạc ở nhiều nơi công cộng. Thật vậy, người ta có thể nhận thấy những hiện tượng trở về văn hóa cổ truyền của dân tộc từ hình thức đến nội dung:

Qua những nhận định trên đây cho chúng ta thấy con người nào có chất văn hóa ấy và đòi phải có những sản phẩm đúng với tâm hồn riêng của mình thì mới đáp ứng được những nhu cầu tinh thần. Đã nói đến nhu cầu tinh thần thì cần phải được hướng dẫn và giáo dục về thẩm mỹ thì nhu cầu đó sẽ hướng về giá trị nghệ thuật của ca, vũ, nhạc dân tộc Việt Nam một khi được nhận thức đầy đủ. Và ông ước mong rằng phong trào tìm về bản sắc dân tộc không như là một "thời trang", vì thời trang đến và thời trang sẽ đi khi không còn hợp thời nữa. Nhưng ông tin rằng thái độ trở về văn hóa cổ truyền sẽ do một ngọn lửa thiêng tự trong lòng của mỗi người Việt Nam, nung nấu hành động của mình đối với việc giữ gìn và phát triển "bản sắc dân tộc". Cần phải tự hào với cái vốn âm nhạc nghệ thuật mà Cha Ông đã lưu truyền lại cho chúng ta.

Những ghi nhận của Trần Văn Khê, cũng là những ghi nhận của nhiều người, cho chúng ta thấy những gì hợp với tâm tính và não trạng của dân tộc sẽ được người dân tộc ấy đón nhận, bởi vì nó là của họ, họ không thể từ chối chính mình.

Thấy được nhu cầu căn bản này trong đời sống văn hóa của Giáo hội trong những miền khác nhau, nên Giáo hội cũng mong muốn các Giáo hội địa phương hãy biết thích nghi, đặc biệt là thích nghi phụng vụ thánh nhạc theo những hướng dẫn và qui chế của Giáo Hội đã đề ra. Muốn thế chúng ta phải tìm hiểu xem văn hóa là gì, Hội Nhập Văn Hóa là gì, quá trình Hội Nhập Văn Hóa của Giáo hội, những chỉ thị hay những nguyên tắc Hội Nhập Văn Hóa vào phụng vụ, và cần phải làm gì để đáp ứng nhu cầu hiện tại của Thánh Nhạc Giáo Hội Việt Nam.

  1. VĂN HÓA:
  2. Có nhiều định nghĩa về văn hóa.

    Bắt nguồn từ tiếng Latinh "Cultura (cultus) hàm ý trồng tỉa, luyện tập, cư trú, văn hóa (Culture) được hiểu là văn minh, phong tục và cách ăn ở (được hình thành qua một quá trình công phu và kiên nhẫn).

    Theo mặt chữ, văn hóa bao hàm văn trong nghĩa văn minh, hóa trong nghĩa giáo hóa, nền giáo hóa trong mỗi văn minh thời đại.

    Hiểu rộng hơn văn hóa là sự hiểu biết và thưởng thức tinh tế về nghệ thuật văn học; là tình trạng phát triển tri thức của một xã hội; là hình thái của biểu hiện tri thức, thí dụ trong nghệ thuật và văn học; là các phong tục, nghệ thuật, thể chế xã hội….của một nhóm người hoặc dân tộc nào đó…

    Năm 1871, Taylor đưa ra định nghĩa: văn hóa là tất cả tổng hợp gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, luân lý, pháp luật, tục lệ cộng với tất cả khả năng và tập quán mà con người đã đạt được vì là "phần từ của một xã hội".

    Theo Tự điển Tiếng Việt, văn hóa là "tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử". Định nghĩa này thực ra còn khá trừu tượng, muốn hiểu chúng ta còn phải xét trước tiên "giá trị" là gì?

    Từ điển Đức tin Kitô Giáo (tiếng Pháp – Việt) xác nhận có tới 250 định nghĩa khác nhau của từ này. Các tác giả của bộ từ điển này chỉ giải thích rằng trong môn xã hội học, người ta gọi văn hóa là toàn bộ những khuôn mẫu của cử chỉ, thái độ và cách phát biểu, những dạng thức của tư duy, những qui tắc luân lý và những thang giá trị được một xã hội hoặc một nhóm người chấp nhận để điều chỉnh sự giao thiệp giữa các cá nhân của xã hội, của nhóm.

    Công đồng Vaticanô II định nghĩa như sau: "Theo nghĩa tổng quát, chữ "văn hóa" chỉ tất cả những gì con người dùng để trau dồi và phát triển các năng khiếu đa diện của tâm hồn và thể xác; làm cho đời sống xã hội, đời sống gia đình cũng như đời sống chính trị trở thành nhân đạo hơn, nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế; sau hết diễn tả, thông truyền và bảo tồn trong các công trình của mình, những kinh nghiệm tinh thần và hoài bão lớn lao của các thời đại, để giúp cho loài người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn". Và Công đồng giải thích thêm: " Vì vậy, văn hóa nhân loại thiết yếu mang tính cách lịch sử và xã hội, và chữ "văn hóa" thường mặc thêm một ý nghĩa xã hội học cũng như nhân chủng học. Chính vì ý nghĩa này mà người ta nói đến sự đa tạp của các nền văn hóa. Thực vậy có nhiều cách sử dụng sự vật, nhiều cách làm việc và diễn tả tư tưởng, nhiều cách phụng tự và tạo nên thuần phong mỹ tục, nhiều cách thiết lập luật lệ và định chế pháp lý, nhiều cách phát triển khoa học, nghệ thuật và trau giồi thẩm mỹ, nên mới phát sinh nhiều cách chung sống và nhiều hình thức hòa hợp các giá trị của cuộc sống. Như thế, từ các định chế lưu truyền hình thành một di sản riêng cho mỗi cộng đoàn nhân loại. Cũng do cách thức ấy mà hình thành một môi trường lịch sử nhất định của con người, bất cứ dân tộc nào hay thời đại nào, để từ môi trường đó con người rút ra những giá trị hầu thăng tiến nền văn minh nhân loại".

    Qua những định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể kết luận văn hóa chính là tập hợp các hành vi đặc trưng và những hiểu biết của một cộng đồng con người, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và bền vững theo thời gian, và tác nhân của văn hóa là con người, vì thế "văn hóa nào không phục vụ con người, không phải là văn hóa thật", con người và văn hóa luôn gắn liền. Văn hóa đi liền với con người và phục vụ con người trong cuộc sống ở các phương diện khác nhau.

    Chính vì tầm quan trọng của văn hóa nên Giáo hội ngày càng ý thức mối liên hệ nội tại giữa Hội Nhập Văn Hóa của Tin Mừng và việc Tin Mừng hóa các nền văn hóa.

    Và mới đây nội dung thuật ngữ văn hóa đã được Huấn thị "Thử tìm một hướng phục vụ cho vấn đề văn hóa" của Hội Đồng Tòa Thánh về văn hóa đã xác định ở số 2 như sau: "văn hóa là phương cách đặc thù mà mỗi người và mỗi dân tộc dựa vào để tổ chức các quan hệ của mình với thiên nhiên, với anh chị em đồng loại, với bản thân mình và với Thiên Chúa, để có được một cuộc sống nhân bản trọn vẹn".

  3. HỘI NHẬP VĂN HÓA:

Hội Nhập Văn Hóa (Inculturation) không phải là Phúc âm hóa (Evangelization), cũng không phải là văn hóa hóa (Enculturation), cộng nhập văn hóa hoặc thích ứng văn hóa (Acculturation – Fuxtaposition).

Theo Cha Cao Văn Đạt, về Hội Nhập Văn Hóa, người ta cũng đưa ra nhiều định nghĩa. Mỗi định nghĩa nêu bật một khía cạnh hay một tính chất của việc Hội Nhập Văn Hóa. Có lẽ đầy đủ hơn cả là định nghĩa của Đức Gioan Phaolô II: "Hội Nhập Văn Hóa là nhập thể phúc âm vào các nền văn hóa bản xứ và cùng một lúc đem các văn hóa ấy vào sinh hoạt của Giáo hội". Chẳng hạn khi nói về Hội Nhập Văn Hóa phụng vụ thì được coi như công việc đem các hình thức và lễ nghi của phụng vụ vào trong khung sườn, khuôn khổ của văn hóa địa phương: ý nghĩ của dân chúng, ngôn ngữ, giá trị, nghi lễ, biểu tượng, diễn tả nghệ thuật, nói chung là các nét văn hóa. Phụng vụ suy nghĩ, nói, hành động theo kiểu mẫu Giáo hội địa phương. Nói một cách giản đơn " Hội Nhập Văn Hóa" là đem Tin Mừng của Đức Kitô vào một nền văn hóa, tìm kiếm, khám phá giá trị Tin Mừng ẩn chứa trong nền văn hóa và đem vào sinh hoạt, đời sống Giáo Hội Chúa Kitô.

Do đó trong phạm vi thánh nhạc, Hội Nhập Văn Hóa là đem tinh túy âm nhạc cổ truyền của dân tộc vào âm nhạc phụng vụ để người Việt nam hiểu được sứ điệp Tin Mừng một cách dễ dàng hơn và hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, việc thực hành và áp dụng Hội Nhập Văn Hóa không phải là việc làm một sớm một chiều, vì còn liên quan đến nhiều phương diện khác nhau, là công việc của tất cả và của từng người cộng tác, chia sẻ dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Nhất là tuân theo nguyên tắc chỉ đạo của Giáo Hội.

  1. HỘI NHẬP VĂN HÓA THEO GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI:

Qua " Hiến chế Mục vụ Giáo hội trong thế giới ngày nay", Công Đồng Vaticanô II đã vạch ra một hướng đi thật rõ: Hướng Mục vụ của Công Đồng Mục vụ. Hướng đi này xác định không thể chỉ đem Tin Mừng áp đặt, nhồi nhét vào tâm trí của người nghe mà cần tìm hiểu, suy nghĩ về tính tình, tập quán của họ; đồng thời hướng đi này mời gọi tìm ra giá trị Tin Mừng đã ngầm chứa trong văn hóa địa phương, các giá trị đạo đức tồn tại nơi người được rao giảng. Do đó, việc lần giở các trang văn kiện của Giáo hội, để đọc lại các giáo huấn về Hội Nhập Văn Hóa trong mọi lĩnh vực nhất là lĩnh vực Phụng Vụ Và Thánh Nhạc là một điều hết sức cần thiết để giúp chúng ta nhận định và áp dụng một cách khôn ngoan, thích đáng và hiệu quả.

  1. Hiến Chế Mục Vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay:
  2. Trong phần thứ hai (Chương II) của hiến chế, đã đề cập đến vấn đề cổ võ việc phát triển văn hóa. Về nghệ thuật, Công Đồng viết (số 62d):

    "Vậy nên, cần phải làm sao để các văn nghệ sĩ cảm thấy rằng Giáo Hội đang lưu tâm đến hoạt động của họ và một khi được hưởng tự do đúng mức, họ có thể trao đổi với cộng đoàn Kitô Hữu dễ dàng hơn. Giáo Hội cũng phải công nhận những hình thức nghệ thuật mới, thích hợp với thời đại chúng ta, tùy theo bản chất của từng dân tộc, từng địa phương. Cũng nên đem vào nơi phượng tự những hình thức mới này, một khi với lối diễn tả thích nghi và phù hợp với phụng vụ, chúng giúp con người nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa".

  3. Hiến Chế Phụng Vụ Thánh (số 119):
  4. "Ở một vài miền, nhất là các xứ Truyền Giáo, có những dân tộc sẵn có một truyền thống âm nhạc riêng; nó đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo và xã hội của họ. Tại những nơi này, phải quý trọng âm nhạc ấy đúng mức, và dành cho nó một địa vị thích hợp, trong khi đào tạo cho họ có một quan niệm tôn giáo, cũng như thích ứng năng khiếu của họ vào việc phụng tự, theo tinh thần khoản 39 và 40.

    Do đó, trong khi huấn luyện âm nhạc cho các vị thừa sai, phải hết sức lo lắng để họ có thể phát triển truyền thống âm nhạc của các dân tộc này, được chừng nào hay chừng đó, trong các trường học cũng như trong các hoạt động phụng vụ".

    Số 123, Hiến chế viết:

    " Giáo Hội đã không hề coi một kiểu nghệ thuật nào như là của riêng, nhưng công nhận tất cả các kiểu của bất cứ thời đại nào, tùy theo đặc tính và hoàn cảnh của các dân tộc, cũng như tùy theo nhu cầu của các Nghi Lễ khác nhau; những kiểu nghệ thuật này, trải qua các thế kỷ, đã tạo nên một kho tàng nghệ thuật cần phải hết sức duy trì cẩn thận.

    Ngay cả những nghệ thuật trong thời đại chúng ta, nghệ thuật của mọi dân tộc và mọi miền, cũng phải được tự do thi thố trong Giáo Hội, miễn là vẫn giữ được vẻ tôn kính trang trọng phải có trong các Thánh đường cũng như trong các nghi lễ thánh. Như thế, nghệ thuật đã có thể hòa giọng với bản nhạc vinh quang kỳ diệu mà các bậc vĩ nhân đã từng ca hát qua các thế kỷ để ca tụng đức tin công giáo".

  5. Huấn Thị Thánh Nhạc trong Phụng Vụ (5,3.1967):
  6. Số 54:

    "Khi đưa ra những bản dịch theo lối phổ thông để dệt nhạc, đặc biệt bản dịch các thánh vịnh, các chuyên viên nên làm thế nào để vừa trung thành với bản văn Latinh lại vừa thích nghi được với bản văn viết bằng ngôn ngữ hiện đại. Phải tôn trọng đặc tính và những qui luật của mỗi ngôn ngữ cũng như phải để ý đến đặc tính của mỗi dân tộc. Khi soạn thảo những cung điệu mới, các nhạc sĩ phải hết sức quan tâm đến những dữ kiện trên cùng những qui luật của thánh nhạc…"

    Số 61:

    " Sự thích nghi âm nhạc trong các miền đã có một truyền thống âm nhạc riêng, nhất là trong các xứ truyền giáo, đòi hỏi các nhà chuyên môn phải được chuẩn bị hết sức đặc biệt.

    Thật vậy, phải kết hợp ý thức về sự thiêng thánh với tinh thần, tập quán và cách diễn tả đặc biệt của mỗi dân tộc. Những ai hiến thân làm công việc này, phải có một tầm hiểu biết vừa đủ về phụng vụ và truyền thống âm nhạc của Hội Thánh, cũng như của ngôn ngữ, ca khúc bình dân và những cách diễn tả đặc trưng của dân tộc mà họ phục vụ".

    Các số từ 62 – 67:

    Huấn thị đề cập đến thánh nhạc dùng cho nhạc khí trong đó " muốn thừa nhận và sử dụng các nhạc khí, phải để ý đến nét đặc sắc và tập quán của mỗi dân tộc…"

    Các vị Giáo hoàng sau Công Đồng Vaticanô II đã lưu tâm và đẩy mạnh phong trào Hội Nhập Văn Hóa, đặc biệt là Đức Gioan Phaolô II đã thực hiện những chuyến đi mục vụ nhiều nơi, giao tiếp với các nền văn hóa, biết các phong tục, tập quán của các Giáo Hội địa phương, như phê chuẩn một số Lễ nghi phụng vụ của địa phương. Những nhà chuyên môn về văn hóa được mời gọi, khích lệ nghiên cứu, góp phần vào việc Hội Nhập Văn Hóa, đưa ra một hướng đi, một đường lối để Hội Nhập Văn Hóa. Trong nỗ lực đó, gần đây nhất là huấn thị thứ Bốn, chúng ta sẽ đề cập sau này.

    Tông thư Giáo Hội tại Á Châu cũng nói đến việc cần phải Hội Nhập Văn Hóa.

  7. Tông thư " Giáo Hội tại Á Châu (1999):
  8. Số 21:

    " …. Khi trao cho kẻ khác Tin Mừng cứu rỗi, Giáo Hội cố gắng tìm hiểu nền văn hóa của họ. Giáo Hội tìm hiểu tâm lý kẻ nghe, các giá trị và tập quán của họ…"

    Số 22:

    "Phụng vụ là nguồn gốc và là tuyệt đỉnh của tất cả đời sống Kitô hữu và truyền giáo. Phụng vụ là một phương tiện quyết định của việc rao giảng Tin Mừng, nhất là tại Á Châu, nơi mà nhiều kẻ theo những tôn giáo khác nhau, rất ưa thích việc tế tự, những ngày lễ tôn giáo và những việc tôn kính bình dân….. nhưng những Giáo Hội được thành lập mới hơn cần nắm chắc rằng phụng vụ trở nên nguồn mạch nuôi dưỡng to lớn hơn đối với dân mình, qua việc sử dụng khôn ngoan và hiệu năng các yếu tố rút ra từ các nền văn hóa địa phương. Sự hội nhập phụng vụ đòi hỏi nhiều hơn là tập trung trên những giá trị văn hóa truyền thống, những ký hiệu và những nghi thức".

  9. Huấn thị thứ Bốn,

Để áp dụng đúng đắn Hiến chế phụng vụ của Công Đồng Vaticanô II (các số 37 – 40), tức việc Hội Nhập Văn Hóa trong phụng vụ Rôma. Sau đây là một số điểm chính liên quan đến thánh nhạc:

    1. Ý nghĩa Hội Nhập Văn Hóa (HNVH):
    2. HNVH là đem Tin Mừng nhập thể vào những nền văn hóa địa phương, đồng thời đưa những nền văn hóa ấy vào đời sống Giáo Hội. Huấn thị nhắc lại: HNVH là sự biến đổi sâu xa các giá trị văn hóa chân chính bằng cách hội nhập chúng vào Kitô Giáo và đem Kitô Giáo gieo trồng vào những nền văn hóa khác nhau của nhân loại. (số 4).

    3. Những nguyên tắc hội nhập:
    1. Những điều được phép thích ứng (HNVH):

Điều quan trọng: Để áp dụng Hội Nhập Văn Hoá, cần có sự khôn ngoan. Huấn thị căn dặn: Chỉ nên thực hiện những đổi mới khi lợi ích thiết thực và chắc chắn của Giáo hội đòi hỏi, và sau khi đã cân nhắc thấy rằng những hình thái mới, một cách nào đó, đã được tiến triển cách hữu cơ từ những hình thái sẵn có (PV. 23, HNVH số 46).

Trên đây là những hướng dẫn tổng quát việt HNVH trong phụng vụ, đặc biệt trong Thánh nhạc. Thánh nhạc là một môi trường thuận lợi cho việc áp dụng HNVH, nhưng không có nghĩa là tùy tiện, mà cần phải được nghiên cứu, nhận định và cân nhắc. Theo nhiều nhà chuyên môn đề nghị, từ những giáo huấn của Giáo hội chúng ta đã có những nguyên tắc soi sáng, phần chúng ta là nỗ lực tìm kiếm, hợp tác để thử đưa ra những sáng kiến thích nghi âm nhạc phụng vụ ngõ hầu làm cho bài Thánh ca có bản sắc dân tộc Việt Nam.

  1. Giáo hội cần đến nghệ thuật: (thư của ĐGH-GP II gửi các nghệ sĩ CNPS 4. 4. 1999)

Số 12: Giáo hội cần đến nghệ thuật:

ĐGH viết: "Giáo hội cũng cần các nhạc sĩ. Biết bao tác phẩm linh thiêng đã được sáng tác qua nhiều thế kỷ do những người có cảm thức sâu sắc về mầu nhiệm! Lòng tin của biết bao tín hữu đã được nuôi dưỡng nhờ những giai điệu xuất phát từ tâm hồn các tín hữu khác, những giai điệu này hoặc đã được đưa vào phụng vụ hoặc được dùng để hỗ trợ cho việc thờ phượng thêm trang trọng. Qua các bài hát, người tín hữu nghiệm thấy lòng tin của mình lúc thì tưng bừng vui tươi, khi dào dạt yêu thương hay tin tưởng đợi chờ Thiên Chúa ra tay cứu độ".

Số 13: Nghệ thuật có cần đến Giáo hội không?

"…Các nghệ sĩ luôn tìm kiếm ý nghĩa tiềm ẩn của mọi sự và băn khoăn làm sao có thể diễn đạt được thế giới khôn tả ấy….. Tôn giáo là nguồn cảm hứng lớn cho nghệ sĩ…. Đề tài tôn giáo là một trong số các đề tài được các nghệ sĩ một thời khai thác nhiều nhất. Giáo hội luôn nhờ đến khả năng sáng tạo của các nghệ sĩ để giải thích sứ điệp Tin mừng và tìm cách áp dụng sứ điệp ấy cách chính xác vào trong đời sống cộng đoàn Kitô hữu…. Chính vì có đưa ra một giáo lý cơ bản là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, nên Kitô Giáo vẫn là nơi đóng góp cho các nghệ sĩ một chân trời những cảm hứng hết sức phong phú. Nghệ thuật sẽ trở nên nghèo nàn biết bao, khi từ bỏ kho tàng Tin Mừng phong phú bất tận này!".

Trong bài "Hội nhập văn hóa", ĐTGM, GB, Phạm Minh Mẫn đã nói đến một trong những lãnh vực cần quan tâm HNVH là loan báo Tin Mừng bằng cách cần trình bày và diễn tả đức tin bằng ngôn ngữ gần gũi và phù hợp với văn hoá Việt Nam hơn (ngôn ngữ phụng vụ, giáo lý, Thánh nghệ (Thánh nhạc)….).

  1. ÔN CỐ TRI TÂN: BƯỚC ĐẦU HỘI NHẬP:

Bất cứ người nào có quan tâm đến âm nhạc Việt Nam đều phải xác nhận rằng nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam có một truyền thống riêng, (cả nhạc đạo và đời), rất xứng đáng là một kho tàng quý giá. Thật vậy nhiều nhà chuyên môn âm nhạc như Lưu Hữu Phước Trần Văn Khê, Lê Giang, Lưu Nhất Vũ, Hùng Lân; các Linh Mục nhạc sĩ như Tiến Dũng, Hoàng Kim, Nguyễn Văn Minh, Kim Long; hoặc các nhạc sĩ như Viết Chung, Hải Linh….. đã dày công nghiên cứu nền âm nhạc dân tộc, đều phải chân nhận sự phong phú và giá trị cao của truyền thống âm nhạc Việt Nam. Đã thấy xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu và xuất bản thành sách với nội dung tìm hiểu mọi hình thức âm nhạc cổ truyền Việt Nam từ xưa đến nay; cũng có những công trình thu tập các điệu hò, điệu lý, các bài dân ca trên khắp mọi miền đất nước.

Về ca nhạc đời, ta có:

Trong phạm vi âm nhạc của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, người ta ghi nhận ba thể loại chính là CA – KINH – SÁCH, từng loại như sau:

  1. Ca nhạc cổ truyền: gồm ca và nhạc.
  • Ca:

Những bài này có đủ tính cách nghệ thuật: ca từ đều là thơ, như song thất lục bát, lục bát…. Về phương diện dòng ca (nhạc điệu) một bài vãn có hình thức hay cách xếp đặt như những bài nhạc cổ điển Âu Châu.

  1. Các cung KINH:
  2. Theo Cha Gioan Nguyễn Văn Minh, các cung Kinh cổ truyền của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam rất phong phú, được đọc (tụng) lên theo như sách Kinh của các địa phận Tây đàng Ngoài thuộc hội Thừa sai Truyền giáo Pari (Hà Nội) hay Sách Toàn niên của các địa phận Đông đàng Ngoài thuộc dòng Đaminh (Bùi Chu chẳng hạn), hoặc sách Mục Lục của các địa phận đàng Trong (Sài Gòn chẳng hạn). Các cung Kinh đều qui về 3 mùa chính là: Mùa vui, Mùa thương, Mùa mừng.

  3. Các cung SÁCH:

Các cung sách cũng rất phong phú, độc đáo. Các cung sách có sắc thái riêng biệt.

Theo Cha Tiến Dũng một nhạc sĩ sáng tác phải là người đầu tiên biết hát và hiểu những bài dân ca, cũng phải biết ca kinh sách, và những cung tế, cung sẩm, cung hát bội nữa v.v…

Chúng ta có thể tự hào về nền ca nhạc cổ truyền Việt Nam, đã để lại cho chúng ta những cung điệu mang đầy bản sắc dân tộc; chúng ta cũng hãnh diện vì các bậc tiền bối đã dựa vào một số cung điệu dân tộc mà làm nên những bài dâng hoa rất linh động sốt sắng: các bậc đàn anh đã sáng tác những bài hát mới mà vẫn mang sắc thái dân tộc; cũng như các bậc chuyên môn trong lãnh vực sáng tác luôn quan tâm khích lệ và quả quyết các thế hệ sau phải múc lấy nguồn nhạc dân tộc, thì mới có thể làm phong phú nền Thánh ca Thánh nhạc Việt Nam được.

F. Bản Sắc Dân Tộc Trong Bài Thánh Ca