1. NGHIÊN CỨU NHỮNG SÁNG TÁC CHUẨN MỰC TRONG KHO TÀNG THÁNH NHẠC:

Hiến chế về phụng vụ thánh số 112 dạy rằng: "Truyền thống âm nhạc của toàn thể Giáo Hội đã kiến tạo nên một kho tàng vô giá, vượt hẳn mọi diễn tả nghệ thuật khác".

Huấn thị Thánh nhạc trong Phụng vụ cũng nói rằng: "Khi sáng tác các cung cho bản văn phụng vụ thường ngữ, các nhạc sĩ phải lo lắng tiếp tục một truyền thống đã cung cấp cho Giáo Hội kho tàng đích thực trong việc thờ phượng Thiên Chúa. Họ phải khảo cứu các loại, các đặc điểm của các tác phẩm dĩ vãng. Họ còn phải cân nhắc kỹ lưỡng các luật lệ và các đòi hỏi của phụng vụ, để các hình thức mới sẽ do các hình thức cũ nẩy nở một cách có cơ cấu, và những tác phẩm mới sẽ có một địa vị mới trong kho tàng âm nhạc của Giáo Hội, địa vị này không được bất xứng với quá khứ"

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết: "Phải quan tâm đến chất lượng ca hát, cả về lời cũng như về nhạc, sao cho sáng tác mới được thực hiện thời nay, đáp ứng được những đòi hỏi của phụng vụ và xứng đáng với truyền thống của Giáo Hội vì Giáo Hội có thể tự hào có cả một gia sản vô cùng lớn lao về lãnh vực này".

Trích dẫn một số chỉ dạy của Giáo Hội trên đây giúp chúng ta hiểu rằng phải quan tâm nghiên cứu các tác phẩm thánh nhạc để nhờ đó sáng tác mới của chúng ta có giá trị. Chúng ta khảo cứu những gì trong các tác phẩm ấy. Và tại sao chúng ta phải khảo cứu?

  1. Những lý do:
    1. Nên nhớ rằng hầu hết các quy luật sáng tác nghệ thuật chỉ có sau này và được rút ra từ những sáng tác cụ thể. Do đó để hiểu một tác phẩm không gì bằng nghiên cứu trực tiếp tác phẩm đó. Ngày nay phương pháp hữu hiệu nhất để tìm hiểu một tác phẩm nghệ thuật được nhiều người sử dụng là phương pháp phân tích tổng hợp và tổng hợp phân tích. Vì vậy trong các lớp sáng tác, thầy dạy luôn đem những bài Sonate, Symphonie, bài ca bình dân… có gía trị nhất, điển hình nhất để phân tích, nhận định cho các học viên nghe. "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng" vẫn luôn là quá trình học hỏi hiệu quả hơn cả. Bởi thế, chúng ta phải khảo cứu những tác phẩm thánh ca chuẩn mực.
    2. Không ai là một hòn đảo
    3. Con người sống là sống với, sống vì, sống cho và sống được trong tương quan với người khác. Người khác có một vai trò nhất định trong quá trình hình thành con người mình với những ảnh hưởng nhiều ít tác động lên suy nghĩ, tình cảm và toàn thể con người hiện sinh chúng ta. Chưa nói đến những môi trường (xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế) mà con người hiện hữu. Nên chúng ta cần đến người khác. Công việc sáng tác là họat động tinh thần cao nhất của con người, càng phải được khởi đi từ những gì đã có. Do đó nghiên cứu những sáng tác hay để gợi hứng cho sáng tác mới là điều cần thiết.

    4. Không ai cho cái mình không có

Xét theo trật tự thời gian đây là một chân lý chi phối hoạt động nghệ thuật con người nói riêng và mọi hoạt động khác nói chung. Thật vậy, "có bột mới gột nên hồ", làm sao chúng ta cho cái mình không có, không sở hữu; làm sao tự nhiên mà có 1 ca khúc mới toanh khơi khơi hiện ra ở trước mặt để mà hát để mà nghe, nếu tác phẩm ấy không được cưu mang cho đến khi chín mùi. Để có cái cưu mang chúng ta phải vay mượn từ ngoài chúng ta, ít nhất là một yếu tố nào đó. Một ý tưởng nảy sinh từ trang Tin Mừng đang đọc hay từ môt câu kinh nguyện phụng vụ; một ý nhạc từ một nhạc đề hay của một bản nhạc nào đó; một hình ảnh bất chợt ghi nhận được từ cuộc sống…

Raph. Dunstons trong Composer’s handbook do Curwen xuất bản tại London 1909 viết: "Một nhạc phẩm chúng ta viết chỉ thành tựu được, nhờ các nhạc phẩm đã có trước. Nhờ có một mớ kiến thức và hoạt động kỹ thuật thu lượm được do sự học hỏi và thực hành mà cá tính và tài năng chúng ta được phát triển, vì thế có thể nói được rằng:nếu không có Schutz và Buxtehude đi trước, thì không có Bach; không có Haydn và Mozart đi trước thì không có Beethoven; nếu không có Gluck và Weber đi trước thì không có Wagner…". King Palmer trong cuốn Teach Yourself to Compose Music viết: "Bạn càng làm quen nhiều với các tác phẩm đặc sắc, năng khiếu sáng tác của bạn càng phong phú và những ý niệm của bạn càng độc đáo. Đó là một mâu thuẫn, nhưng là sự thực!" Sáng tác không phải là làm lại cái người khác đã làm, nhưng là hoàn tất bổ túc, tiếp theo, phát triển công việc của người đi trước. Do đó, phải học xem những người đi trước đã làm gì. Nhờ đó chúng ta mới có chất liệu cho những sáng tác của chúng ta. Kinh nghiệm này bất cứ một người sáng tác nào cũng đều phải trải qua.

Ai cũng biết rằng Lưu Hữu Phước là một nhạc sĩ lớn,nhung ít người biết rằng ông đã nghiên cứu rất sâu về hát Quan Họ, về thanh giọng, về ngôn ngữ Việt Nam, đã luôn luôn tìm hiểu về các loại nhạc thính phòng, nhất là về âm nhạc Tài Tử, Cải Lương, đã quan tâm rất nhiều các vấn đề âm nhạc và tuổi thơ, âm nhạc và thanh niên, bản sắc văn hóa dân tộc.

Trong lãnh vực thánh ca,ai cũng biết, Kim Long, là một linh mục nhạc sĩ bậc thầy, đã sáng tác những ca khúc thánh nhạc nổi tiếng với số lượng vô địch, đã đào tạo nhiều học trò nhạc sĩ nổi danh… Ngài cũng đã khởi đầu sự nghiệp sáng tác của mình từ những gợi hứng của các bậc đàn anh, các bậc thầy như Cha Ngô Duy Linh v.v…

  1. Viết cái mới từ những chất liệu đã có:

Để chỉ họat động sáng tác, đặc biệt là sáng tác âm nhạc,tiếng anh và tiếng pháp dùng động từ: "Compose -composer". "Compose hay composer" bao hàm ý nghĩa: viết, soạn hay sáng tác, do việc sắp xếp, phối hợp để tạo nên hoặc hình thành một tổng thể mới từ những cái gì đã có. Thí dụ: viết một bài văn, cảm tác một bài thơ,hay soạn một ca khúc.Những sáng tác mới này đều khởi đi từ những chất liệu có sẵn: từ ngữ, câu cú, bố cục, quy tắc, những âm thanh được sử dụng trong âm nhạc..v..v, người sáng tác là người biết nối kết, xếp đặt sao cho đúng và hay theo khung cấu tạo mới mà mình đã nghĩ ra. Nhất là trong âm nhạc, nhờ nghiên cứu một loại ca nhạc nào đó, chẳng những chúng ta tìm được giai điệu mới, chúng ta lại có thể tìm được cách diễn tả mới, hình thức mới.. Hoặc cũng một ý tưởng đó nhưng chúng ta dùng cách biểu đạt với nhũng hình ảnh, ngôn từ của cuộc sống hôm nay, mang tính cách mới mẻ hơn, phù hợp hơn.

Đức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, ở buổi hội thảo lần thứ 5 (19/2/1997) của UBTN Toàn Quốc, đã đưa ra đôi điều gợi ý để sáng tác thánh ca tiếng Việt, Ngài nói: "Sáng tác thánh ca là hình thành một tác phẩm nghệ thuật trong lãnh vực ca hát để dùng trong phụng vụ. Vì là một tác phẩm nghệ thuật nên đòi hỏi ở nghệ sĩ nguồn cảm hứng và kỹ thuật. Cảm hứng là do thiên phú, do suy nghĩ, tìm tòi, đọc, nghe, hát các tác phẩm. Kỹ thuật là do học hỏi nghiên cứu, tập cho mình có một cảm thức chân chính về nghệ thuật (bongout)… Sáng tác thánh ca gồm hai phương diện: lời và nhạc. "Đức Cha nói tiếp: "Phụng vụ cung cấp sẵn những bản văn… và cùng với Thánh Kinh, phụng vụ là nguồn phong phú về nội dung…để tự sáng tác lời ca… Còn về nhạc: Hãy sử dụng những kỹ thuật sáng tác quốc tế,… tìm tòi những nét mới của âm nhạc thế giới đương đại; lấy mẫu mực trong bình ca; hình thể thánh ca trong phụng vụ Latinh rất phong phú đã cung cấp nhiều chất liệu cho các sáng tác thánh ca bằng các ngôn ngữ trên thế giới; cảm hứng trong nhạc dân tộc …".

Như vậy trong các tác phẩm chuẩn mực đã có sẵn những chất liệu, chỉ cần người sáng tác biết cách khai thác và sử dụng, sẽ cho ra đời những sáng tác mới xứng đáng và nối tiếp truyền thống cao quý của thánh nhạc. Công việc này đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu một cách khôn ngoan và khoa học hầu khám phá những gì cần thiết cho công việc sáng tác của chúng ta.

  1. Nghiên cứu những gì.

Dĩ nhiên là phải nghiên cứu chính tác phẩm, tuy nhiên chỉ nghiên cứu bản thân tác phẩm thôi thì chưa đủ. Bởi vì một tác phẩm bao giờ cũng gắn liền với một quá trình sáng tác của nhạc sĩ, với xu hướng của phụng vụ khi tác phẩm ra đời, cũng như tâm thức của con người lúc ấy.

    1. Nghiên cứu tất cả các tác phẩm:
    2. Theo huấn thị trên đây, thì phụng vụ Giáo Hội có cả một kho tàng thánh nhạc để cho chúng ta nghiên cứu: những tác phẩm của Giáo Hội nói chung và của Giáo Hội mỗi nước nói riêng, trong đó Giáo Hội cũng khuyến khích nghiên cứu nền nhạc cổ truyền của mỗi dân tộc. Chúng ta có thể tự hào nền âm nhạc cổ VN, cả đời và đạo, rất xứng đáng là một kho tàng qúy giá.

      Nghiên cứu các tác phẩm một cách đa dạng: không phân biệt trường phái nào, của ai, thời kỳ nào, miễn là tác phẩm ấy có giá trị, đã được công nhận và được cộng đoàn phụng vụ mến mộ, vì tác phẩm ấy đã gợi lên những tâm tình đạo đức, thánh thiện, thôi thúc được lòng sốt sắng của tín hữu.

    3. Nghiên cứu chung về âm nhạc và lịch sử âm nhạc:

Trước hết là học hỏi âm nhạc nói chung bao gồm quá trình phát triển của âm nhạc qua các thời đại, nghĩa là âm nhạc trong đời sống chính trị, xã hội và tôn giáo,vị trí và vai trò của nó; học hết các loại nhạc: nhạc cổ Hy lạp, Trung Hoa, Ấn Độ… cả những loại nhạc có rất nhiều tính chất phàm tục như ca nhạc kịch, vũ điệu, kích động nhạc, các ban nhạc cổ điển và tân thời, đăc biệt là các phong trào âm nhạc mang bản sắc dân tộc mà hiện nay đang được cổ võ ở nước ta.

Cách riêng nghiên cứu địa vị âm nhạc trong phụng vụ Giáo Hội. Quá trình phát triển của âm nhạc Công giáo gắn liền với quá trình phát triển phụng vụ Rôma, nên ít ra chúng ta phải hiểu được các thời kỳ chính:

  1. Thời kỳ đầu: từ thời các tông đồ đến thế kỷ V: âm nhạc phụng vụ bắt nguồn từ nền âm nhạc Do Thái giáo.

  2. Giai đoạn cổ thời phụng vụ Rôma (thế kỉ VI-X) bắt đầu từ Đức Ghê-gô-ri-ô Cả với công cuộc cải tổ thánh nhạc cùng với sự ra đời của BÌNH CA.

  3. Giai đoạn tiếp nhận phụng vụ Pháp Đức vào Rôma (950-1200): Bình ca phát triển nhung sau đó nền âm nhạc Pháp Đức (dù có sau) và các trào lưu mới sáng tác âm nhạc khiến cho nhạc bình ca mất ảnh hưởng và suy thóai. Tuy nhiên, Bình ca đã đưa ra những hình thể mới như: ca tiếp liên (Sequence), ca vân vãn (Prose), ca bình giải (Tropes), ca kịch phụng vụ.

  1. Canh tân phụng vụ tai giáo triều Rôma và tại các địa phương (1200-1564): Trong suốt 3 thế kỷ XIII, XIV, XV âm nhạc công giáo không có gì phát triển đáng lưu ý. Nhiều xu hướng và thể loại mới ra đời. Đến thế kỷ XVI, được mệnh danh là thời đại hoàng kim của nhạc đa âm, nền thánh nhạc mới được phục hồi. Đặc biệt với phong trào của Luther, hình thể CHORAL ra đời với những đặc điểm riêng.

  2. Cuộc canh tân phụng vụ: (1563-1903) ưu thế của luật chữ đỏ: Nhạc khó được đưa vào phụng vụ. Ta có thể chia giai đoạn này thàng 3 thời kỳ:

  • Thời kỳ Baroque (1600-1750): âm nhạc có đặc điểm: dùng tiếng bản xứ, không dùng các điệu thức bình ca, sử dụng thang âm trưởng thứ, mang tính đặc thù quốc gia. Hai khuôn mặt nổi bậc là SCHUTZ và BACH.
  • Thời kỳ cổ điển (1750-1820): Các hình thức của âm nhạc được viết theo dạng hòa tấu,với dàn nhạc, hát lĩnh xướng, và hợp xướng. ta phải kể đến các tên tuổi như JOSEPH HAYDN, WOLFGANG AMADEUS MOZART và LUDWIG VAN BEETHOVEN.
  • Thời kỳ lãng mạn (1820-1900): Thánh vịnh và Thánh Kinh được phổ nhạc. Thời kì này có FELIX MENDELSSOHN và JOHANNES BRAHMS.
  1. Phong trào canh tân phụng vụ trước công đồng Vat. II (1903-1962)

Đức Piô X ban hành tự sắc "Tra Le Sollicitudini" mở đầu cho cuộc canh tân phụng vụ cùng với nhạc bình ca. Kinh Thánh có vai trò giá trị trong Phụng Vụ. Đức Piô XII ra thông điệp: "Musicae Sacrae" (25/11/1955) cho phép hát bằng tiếng bản quốc.

  1. Phụng vụ từ công đồng Vaticanô đến nay (1962):

Để cho giáo dân tham dự tích cực, ý thức và hiệu quả, Công đồng dù vẫn giữ tiếng Latinh làm ngôn ngữ chính, đã cho phép sử dụng tiếng địa phương. Đặc biệt Hiến Chế Phụng Vụ thánh (văn kiện biểu quyết đầu tiên của Công Đồng) đã dành hẳn chương VI (từ số 112-121) để đưa ra đường hướng của thánh nhạc trong phụng vụ.

Qua mỗi giai đoạn, truyền thống âm nhạc phụng vụ được cũng cố, duy trì và phát triển (mặc dầu cũng có những bước thăng trầm của nó), trong đó đã để lại cho chúng ta một kho tàng rất phong phú về hình thể thánh ca.

    1. Hình thể thánh ca:

Cử hành phụng vụ là một hành động phong phú bao gồm nhiều kiểu nói và cử điệu. Vì thế ca hát phải tùy theo mỗi tác động mỗi cử điệu để có cung điệu cho phù hợp hầu diễn tả đúng và sốt sắng tâm tình của từng thời điểm. Lại nữa trong cộng đoàn phụng vụ, có các phận vụ khác nhau do bản chất cử hành đòi hỏi nên ngoài linh mục với quyền chủ tọa, còn có các thừa tác viên khác nữa. Do đó đòi hỏi phải có các hình thể tháng ca khác nhau, người sáng tác phải biết để có thể viết cho trúng cách. Những hình thể thánh ca thông dụng là:

  • Cung đọc (Tonus recitativus)
  • Tụng kinh (Psalmodia)
  • Đối ca (Antiphona)
  • Đáp ca (responsorium)
  • Ca vãn (Hymnus-sequentia)
  • Ca khúc (Canticum)
  • Bộ lễ (Kiriale)
  • Kinh cầu (Litaniae).

Trong các cung trên đây cần phải lưu ý đến cung đọc, "khi soạn các cung đó (tức cung dành cho chủ tế và các thừa tác viên), các nhạc sĩ nên xem các cung điệu cổ truyền của phụng vụ La tinh đã dùng về cùng một mục đích, có thể soi sáng gì để sọan ra các cung điệu cho các bản văn bằng ngôn ngữ hiện đại không"

Cũng cần phải nghiên cứu cách đặt hòa âm cho những ca khúc phụng vụ tiếng Việt.

    1. Hòa âm:

Hòa âm là một lãnh vực chyên biệt đòi hỏi phải học hỏi đến nơi đến chốn. Tuy nhiên khi nghiên cứu tác phẩm, chúng ta cũng có thể rút ra những điều bổ ích cho công việc sáng tác. Thực ra "Từ xưa, dòng ca cổ truyền VN cũng như Bình ca, tự bản chất là những dòng ca một bè, đơn sơ, trong sáng. Dần dần với thời gian, trước sự phát triển của âm nhạc thế giới, thánh ca đã chấp nhận hình thức đa âm (Palestrina, tk, 16), muốn dâng lên Thiên Chúa tiếng nói của vạn vật, bằng những hình thức phong phú nhất của âm thanh.

Tuy nhiên, muốn sử dụng hòa âm thì không nên tự phát, nhưng cần phải học hỏi một cách bài bản nghiêm túc.

Nên nhớ rằng, không phải cứ hòa âm mới là nhạc sĩ, cứ hòa âm mới là ca khúc.

Sử dụng đa âm là vệc được phụng vụ khuyến khích, nhưng làm thế nào để:

  1. Dấu giọng tiếng Việt vẫn giữ được rõ ràng, ít ra là tương đối.
  2. Lời phụng vụ vẫn được nghe rõ.
  3. Bài nhiều bè không làm cản trở việc cộng đoàn tham dự vào phụng vụ.

Các yếu tố trên, cho đến nay, qủa vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề gai góc, chúng ta hãy kiên nhẫn tìm kiếm"

Ngoài vấn đề kỹ thuật, còn phải nghiên cứu các quy luật liên quan đến Thánh Nhạc. Những quy luật này nhằm cho các sáng tác đảm bảo đuợc đặc tính thánh thiện và hình thức tốt đẹp, là những đặc tính mà các nhạc phẩm chuẩn mực đã đạt được

Nói tóm lại Giáo Hội đã để lại cho chúng ta một kho tàng quý giá về thánh nhạc, và tinh thần canh tân phụng vụ đề cao tính cách linh họat, tính cộng đồng trong các họat động phụng vụ. Vậy chúng ta phải lo lắng và hết sức cố gắng tiếp tục phát triển kho tàng đó, để những bài ca phụng vụ chúng ta viết ra không bất xứng với những tác phẩm âm nhạc chuẩn mực, mà lại có sắc thái riêng của chúng ta.

Là người VN công giáo, chúng ta lại càng muốn những bài ca phụng vụ có sắc thái riêng của nghệ thuật dân tộc. Muốn thế chúng ta cũng cần phải quan tâm đến lãnh vực này, là lãnh vực mà Giáo Hội nhắn nhủ chúng ta không được bỏ qua nhưng phải tìm cách thích ứng để làm nổi bật bản sắc dân tộc trong bài thánh ca. Vấn đề này sẽ được đề cập trong Phần bốn sau đây.