CHƯƠNG 2:

TIÊU CHUẨN SÁNG TÁC

Mới đây trên mục Thông Tin Âm Nhạc có đăng bài "tản mạn chuyện cũ và mới của bài hát" của Trần Hữu Ngư Tác giả viết "Những nhạc sĩ trẻ hôm nay không nên vội vàng và cũng đừng quá dễ dãi trong lời ca nốt nhạc. Đừng tìm kiếm nguồn cảm hứng qua những nốt nhạc "lai ngoại", hãy nhìn quanh quẩn đây thôi, sẽ thấy đất nước và con người Việt Nam còn nhiều điều để người nhạc sĩ cảm nhận. Trong cuộc sống hôm nay, ngay cả cái ăn cũng có "ăn nhanh", đi đứng có "tốc hành", gửi thư có "chuyển phát nhanh", học thì có "cấp tốc", và còn biết bao thứ nữa mang nhịp sống sôi nổi, trẻ trung, nhanh gọn... Nhưng riêng với người nhạc sĩ trẻ, thì xin... đừng. Đừng ngủ một đêm, sáng thức dậy đã có một bản nhạc rất "tác phong công nghiệp" và "hiện đại hóa". Khi ấy không chừng chúng ta sẽ có một bài hát rất mới lạ mà lại cũ vô cùng".

Thiết tưởng nhận định của tác giả về âm nhạc đời mà còn gắt gao như vậy thì phương chi nhạc đạo. Vì vậy, người sáng tác thánh ca cần phải cân nhắc kỹ lưỡng các luật lệ và các đòi hỏi của phụng vụ để mỗi bài ca thực sự đáp ứng được những điều kiện trên. Do đó phải lưu ý các tiêu chuẩn sau:

  1. Chủ đích và tâm tình cầu nguyện.
  2. Biểu lộ sự thánh thiện.
  3. Chất lượng bài ca.
  4. Tính phổ cập.
  5. Được chuẩn nhận.

 

  1. Chủ đích và tâm tình cầu nguyện:

  1. Chủ đích:

Chủ đích chung: Bất cứ bài ca nào khi được gọi là thánh ca đều nhắm đến mục đích chung với Phụng vụ là tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa con người.

Chủ đích riêng: Ngoài mục đích cuối cùng ấy, bài thánh ca còn có những chủ đích khác mà người viết muốn nhắm đến: để ca tụng, để tạ ơn, để sám hối hay để cầu xin. Có khi để ca tụng nhưng lại đi vào một khía cạnh nào đó của tâm tình ca tụng này, như đứng trước vẻ cao cả của Thiên Chúa, tác giả nhận thấy mình nhỏ bé, nên bày tỏ sự lệ thuộc vào Người bằng những lời ca ngợi, tôn vinh, bằng niềm tin tưởng phó thác. Hoặc bài thánh ca được viết cho một đối tượng cộng đoàn nào đó, nên có những tâm tình cầu nguyện có tính cách riêng, mà với vị thế của cộng đoàn ấy thì khi bài hát được cất lên mới phù hợp. Hoặc khi tác giả đã đề nghị bài thánh ca đó hát lúc hiệp lễ, thì không nên hát lúc nhập lễ, mặc dù người ta không thấy gì là sai cả. Thí dụ bài: "Lạy Chúa bao ngày tháng con hằng mơ ước v..v.."

Nói chung, khi định viết một bài ca, người sáng tác phải trả lời được câu hỏi: "Hát hoặc nghe bài ca này người khác có biết được gì về Thiên Chúa và Giáo Hội của Người không ?"

  1. Tâm tình cầu nguyện:

Phần trên đã nói tới cầu nguyện là môi trường của sáng tác thánh nhạc. Vì thế bài ca trước hết phải là lời cầu nguyện của chính người viết, và viết để người khác hát mà cầu nguyện và giúp cộng đoàn cầu nguyện. Bài hát phải được viết khi nhạc sĩ cầu nguyện, và giúp các thành phần trong cộng đoàn cầu nguyện. Như vậy giữa cá nhân và cộng đoàn phải có mối tương quan hỗ tương. Các môn đệ Chúa Giêsu đã "đồng tâm hợp ý trong việc cầu nguyện" và Chúa Thánh Thần sẽ gợi hứng, phát động một hành động tạ ơn nơi cộng đoàn cũng như nơi từng cá nhân để chúc tụng các kỳ công vĩ đại mà Thiên Chúa đã thực hiện. Cho nên cũng như lời cầu nguyện mà vị linh mục chủ tọa cộng đoàn dâng lên Thiên Chúa được dân chúng tung hô lúc khởi đầu hoặc kết thúc lời kinh chứng minh rằng toàn thể cộng đoàn chủ động cầu nguyện, thì lời hát của một thừa tác viên đọc sách xướng lên, hay của ca đoàn diễn tấu đều có tính phổ quát của dân Thiên Chúa, khi "dân này thi hành chức năng tư tế của mình, để cầu khẩn cho hết mọi người". Dưới bất cứ hình thức nào, lời cầu ngyện của một tín hữu phải trở thành lời cầu nguyện của mọi người, và "phục vụ cho việc xây dựng Giáo Hội".

  1. Biểu lộ sự thánh thiện:

"Thánh thiện" là một hạn từ được sử dụng nhiều nhất trong Kinh Thánh, trong Phụng vụ và trong các chú giải thần học. Từ "thánh thiện" được dùng như là một cách diễn tả ngắn gọn một thực tại mà bản tính của thực tại đó không thể nào diễn tả thành lời được. Thực tại đó chính là sự hiện diện của Thiên Chúa và sự hiện diện này ảnh hưởng, tác động đến đời sống nhân loại như thế nào. Vì ý nghĩa của từ này rất phong phú nên chúng ta cần lược qua một vài nét chính yếu.

  1. Khái niệm về thánh thiện:
  2. Trong Cựu Ước, chữ "Kadosch" ("thánh") của tiếng Hípri có nghĩa là được tách biệt khỏi thế giới trần tục hay phàm tục, hoặc được hiến dâng cho Thiên Chúa, như dân Israen được gọi là thánh vì là dân của Thiên Chúa. Thiên Chúa thánh thiện, nghĩa là Người tách biệt khỏi mọi sự dữ. Còn tạo vật thánh thiện là nhờ có liên hệ với Thiên Chúa, vì do cưu mang ơn Chúa, hay vì do được hiến thánh cho Thiên Chúa...

    Ngày nay trong Phụng vụ chúng ta thấy tung hô Thiên Chúa ba lần thánh, tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Thánh và Thiên Chúa thánh hóa, thông chuyển sự thánh thiện cho thế giới và nhân loại qua việc nhập thể của Đức Kitô Giêsu, Người "là thánh và là Con Thiên Chúa". Phụng vụ tuyên xưng Đức Kitô là "Đấng Thánh duy nhất" và mừng lễ các Thánh. Chúng ta vẫn nói các Tin Mừng Thánh, tuần thánh và chúng ta được mời gọi nên thánh. Giáo Hội,là sự hiện diện kéo dài của Đức Kitô trong thế giới, tiếp tục thực hiện cho đến tận thế, hoạt động thánh hóa qua Phụng vụ và qua việc loan báo Tin Mừng,Nước Trời ngự trị trong lòng thế giới, dưới tác động của Thánh Thần. Do đó, hành vi "tác thánh" hay "thánh hóa" có thể nói được là chính trọng tâm của việc thờ phượng và đời sống Kitô giáo.

    Sự thánh thiện không những nói lên một trong những ưu phẩm của Thiên Chúa, sự thánh thiện còn được coi là một trong bốn đặc tính của Giáo Hội. Thật vậy, chúng ta "tin Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền".

    Công đồng Vaticanô II đã giải thích niềm xác tín này:"Chúng tôi tin Giáo Hội, một mầu nhiệm được Thánh Công Đồng trình bày, có tính cách thánh thiện, bất khả khuyết. Thực vậy, Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, được ca tụng là "Đấng Thánh duy nhất", đã yêu dấu Giáo Hội như hiền thê mình và đã hiến thân để thánh hóa Giáo Hội". Vì lý do này, mà toàn bộ chương V của Hiến chế tín lý về Giáo Hội nhấn mạnh tất cả mọi người trong Giáo Hội đều được kêu gọi nên thánh. "Được Thiên Chúa kêu gọi và được công chính hóa trong Chúa Giêsu, không phải vì công lao riêng, nhưng vì ý định và ân phúc của Ngài, các môn đệ Chúa Kitô, nhờ lãnh nhận phép Thánh Tẩy, bí tích đức tin, đã thực sự trở nên con cái Thiên Chúa và được thông phần vào vào bản tính Ngài, và do đó, thực sự đã trở nên thánh. Cho nên với ơn Chúa họ phải luôn gìn giữ và hoàn thành trong đời sống sự thánh thiện mà họ đã lãnh nhận"

    Như vậy, sự thánh thiện xem ra là một thực tại phức tạp đụng tới mầu nhiệm cuả Thiên Chúa, và cả tới việc thờ phượng và luân lý nữa; sự thánh thiện bao gồm những ý niệm về sự thánh và tinh sạch, nhưng vượt xa cả hai. Sự thánh thiện hình như chỉ dành cho Thiên Chúa, Đấng không thể lại gần được, nhưng cũng thường được gán cho các thụ tạo. Từ đó ta có thể hiểu thánh nhạc là âm nhạc dùng trong Phụng vụ để thờ phượng Chúa, thánh hóa tín hữu, nên do mục đích đặt ra cho chúng là thánh nên âm nhạc này được đặt tên là thánh nhạc.

  3. Tính thánh thiện trong bài thánh ca:

Hiến chế Phụng vụ đã quả quyết: "Truyền thống âm nhạc của toàn thể Giáo Hội đã kiến tạo nên một kho tàng vô giá, vượt hẳn mọi diễn tả nghệ thuật khác, nhất là vì điệu nhạc thánh đi liền với lời ca, góp phần cần thiết hoặc trọn vẹn trong Phụng vụ trọng thể". Do đó "phải hết sức lo lắng duy trì và cổ võ kho tàng thánh nhạc". Nên khi sáng tác, các nhạc sĩ "hãy sáng tác những bản có cung điệu thánh nhạc thực sự... Còn lời thánh ca phải thích hợp với giáo thuyết công giáo và tốt hơn cả là rút ra từ Thánh Kinh và các nguồn mạch phụng vụ"

Thánh nhạc, trong đó thánh ca là chính, là trợ tá của phụng vụ. Phụng vụ là hành vi thánh của Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa, nên viết thánh ca cũng phải là một hành vi thánh, bài ca tự bản chất cũng phải có tính thánh thiện. Ta có thể nêu ra những lý do sau đây để khẳng định tại sao nhạc phụng vụ phải thánh thiện.

    1. Vì nguồn gốc của nhạc phụng vụ là thánh:
    2. Theo cha Kim Long, "việc dùng âm nhạc trong các lễ nghi phụng vụ của Hội Thánh không phải là sáng kiến của con người nhưng bắt nguồn từ chính ý muốn của Thiên Chúa: Kinh Thánh bày tỏ điều đó cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước. Việc hướng dẫn sử dụng cũng như bảo toàn những đặc tính riêng biệt của Thánh Nhạc luôn là mối bận tâm của Hội Thánh qua sự chỉ dạy trực tiếp của các Đức Giáo Hoàng, hoặc qua các văn kiện của Tòa Thánh hoặc qua các Công đồng địa phương. Bởi vậy ta có thể nói: chính Thiên Chúa và Hội Thánh là nguồn gốc của Thánh Nhạc".

    3. Vì nhạc đi liền với lời Thánh của Phụng vụ:
    4. Chúng ta cần phải nhớ rằng, bản văn Phụng vụ bao giờ cũng có trước, sau đó nhạc mới được đem vào, để tô điểm cho lời, để diễn tả lời, cho nên nhạc phải lệ thuộc vào lời. Nghĩa là Thánh nhạc có là vì lời (nhạc vị Lời). Lời trong Phụng vụ là lời rút ra từ thánh Kinh và các nguồn mạch phụng vuï. Vì thế, trong phụng vụ, Kinh Thánh vẫn giữ vai trò quan trọng, thì thánh ca luôn theo phụng vụ, cũng phải song hành, nghĩa là đa số thánh ca dùng chính lời Kinh Thánh hoặc các bản văn phụng vụ để dệt nhạc. "Thật vậy, người ta trích từ Kinh Thánh những bài để đọc cũng như những ca vịnh để hát. Chính nguồn cảm hứng và sức phấn khởi của Kinh Thánh cũng làm xuất phát những lời kinh nguyện và những bài phụng ca. Thánh Augutinô viết: "Những ngày đó, con đã khóc biết bao khi nghe những bài thánh ca và thánh thi được xướng lên trong Hội Thánh của Chúa. các lời đó lọt vào tai con, và chân lý thấm vào lòng con. Vì thế, con cảm động đến ứa nước mắt và con cảm thấy sung sướng. Giáo Hội Milanô cách đây một năm hay hơn một chút, đã bắt đầu sử dụng lối ca hát vừa phấn khởi vừa ủi an này, bằng cách anh em hợp tiếng hợp lòng, sốt sắng hát lên với nhau... trong lúc người của Chúa là Giám mục Ambrosiô bị bách hại, đông đảo các tín hữu đang canh thức trong nhà thờ và sẵn sàng chết với Giám mục của họ là tôi tớ của Chúa... Để dân chúng khỏi chán nản, lúc đó người ta quyết định hát các bài thánh thi và thánh vịnh theo thói quen bên Đông. Từ đó, tập tục này đã được duy trì cho đến nay và được các giáo đoàn ở hầu hết các nơi trên thế giới bắt chước". Điều này cho thấy, Lời Chúa tự bản chất có sức thánh hóa mọi tâm hồn, nên những bài ca có lời từ chính Kinh Thánh để dệt nhạc, thì cũng có sức thánh hóa như vậy.

    5. Vì nhạc phụng vụ đi liền với tác động Phụng vụ, liên kết với phụng vụ, càng chặt chẽ bao nhiêu thì càng thánh thiện bấy nhiêu....

Theo truyền thống, Phụng vụ không phải chỉ có lời, nhưng có những hành động biểu tượng để thể hiện thái độ đức tin hay tâm tình của cộng đoàn, hoặc của các thừa tác viên. Không có một tình cảm chân thành nào mà lại không được thể hiện tự phát bởi một tư thế hay cử chỉ. Ít nhất các tư thế của thân xác cũng có khả năng diễn tả sự đồng tâm nhất trí, như lời ca tiếng hát, và đây là cách diễn tả dễ dàng hơn.

Quy chế tổng quát sách lễ Rôma viết: "Điệu bộ chung của thân thể mà mọi người tham dự phải giữ là dấu chỉ tính tập thể và hiệp nhất của cộng đoàn: nó biểu lộ và khích lệ tâm hồn cũng như tình cảm của các người tham dự" và "trong các cử chỉ, còn có các hành động, như việc Linh mục tiến tới bàn thờ, việc dâng lễ phẩm và việc giáo dân tiến lên hiệp lễ. Nên liệu sao cho các hành động đó diễn ra cách đẹp đẽ, kèm theo những bài hát xứng hợp như quy luật đã ấn định cho từng việc". Huấn thị thứ ba về Thánh Nhạc cũng minh xác: "Thánh Nhạc phải hướng về việc cử hành Phụng vụ... phải phù hợp với tác động Phụng vụ, từng phần của cử hành Phụng vụ".

Cử hành Phụng vụ là một hành động phức tạp, bao gồm nhiều kiểu nói và cử điệu: Công bố, Đối đáp, Tung hô, Thánh vịnh, Điệp ca, Đáp ca, Kinh cầu, Ca tiếp liên, Vinh tụng ca; luôn được lồng xen vào cuộc rước, Bài đọc, Kinh nguyện, Lời tung hô, Lúc dâng lễ, Lúc hiệp lễ...mỗi một thời điểm này đều thích hợp với những bài thánh ca khác nhau, bổ túc cho nhau. Người ta sẽ làm cho Phụng vụ nghèo nàn khi không còn có sự diễn tả phong phú này nữa.

Trước kia người ta chia các bài hát của Thánh lễ làm hai loại, hoặc hai phần: phần "thường lệ", chung cho bất cứ ngày lễ nào, và "phần riêng", được thay đổi tùy mỗi ngày lễ. Ngày nay sự phân chia này không phù hợp với Phụng vụ mới nữa. Bây giờ, mỗi bài hát đều có chức năng và tính chất riêng của nó. vì thế, người sáng tác phải dựa vào sự trình bày của sách lễ Rôma, để hiểu ý nghĩa và chức năng của mỗi bài hát trong thánh lễ, nhờ đó người sáng tác có thể nghĩ đến những hình thức âm nhạc, giọng hátthể âm nhạc cho phù hợp với từng trường hợp. Có như thế, bài thánh ca mới thực sự mang tính thánh thiện, vì liên kết chặt chẽ với hoạt động Phụng vụ.

    1. Vì là lời cầu nguyện của dân Chúa nên nhạc Phụng vụ phải thánh.
    2. Đức Piô X dạy: "Mục tiêu chính của nhạc Phụng vụ phải là tăng cường hiệu năng của bản văn Phụng vụ để giáo dân thêm sốt sắng, nhờ đó lãnh nhận nhiều ân sủng, đó là hiệu quả chính của việc cử hành các mầu nhiệm thánh". Vì thế, những lời cầu nguyện của Phụng vụ được dệt nhạc chính là để "lời kinh được diễn tả cách thâm sâu hơn", để "phát triển lời cầu nguyện một cách dịu dàng hơn", để diễn tả niềm vui trong lòng và thúc đẩy việc chia sẻ cùng một đức tin và một tình yêu".

      Qua những lời dạy trên đây, người sáng tác phải thể hiện được đặc tính của thánh ca phần lớn là phương thế để cầu nguyện, để người khác hát lên với tâm tình xứng đáng và sống động. Thế nên lời và nhạc phải hàm chứa nền tảng có giá trị cầu nguyện. Đôi khi có một số bài thánh ca được phổ biến, đã soạn thảo rất kém về văn chương, thi phú, cả nét nhạc nữa cũng rất yếu kém. Điều đó không tiện nói ra ở đây. Điều quan trọng nhất là dấu chỉ và biểu trưng của Phụng vụ, nó phải được thích nghi theo đúng với mục đích của Phụng vụ, phải được hòa hợp với việc cầu nguyện cho cộng đoàn Kitô giáo, phải thích đáng với việc tôn thờ, làm rạng rỡ và vui lòng Thiên Chúa. Thế nên các sáng tác mới phải thể hiện được nét duyên dáng và lôi cuốn, vì bài thánh ca không chỉ hội yếu tố xứng đáng và thánh thiện mà còn phải có cả nét đẹp nữa.

      Nên nhớ rằng nhạc được chấp nhận dùng trong Phụng vụ là vì Phụng vụ, là phương tiện, do đó Giáo Hội đã phủ quyết chủ trương "nghệ thuật vị nghệ thuật". Vì "nghệ thuật tôn giáo được dâng hiến cho Thiên Chúa để ca tụng và tôn vinh Người. Nó chẳng có mục đích nào khác ngoài việc giúp đỡ các tín hữu kính cẩn nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa".

      Nói tóm lại, một bài hát không khởi động những tâm tình đạo đức, không chắp cánh cho những lời cầu nguyện của bản văn Phụng vụ bay lên Thiên Chúa, thì cần loại bỏ khỏi nghi thức Phụng vụ.

    3. Nhạc Phụng vụ thánh thiện do việc sử dụng cung điệu thánh.

Tiêu biểu của cung điệu thánh là Bình ca (plain chant). Đức Thánh Cha Piô viết: "Một bài ca viết cho Thánh đường càng giống bình ca trong cách chuyển hành thì càng thánh thiện". Công Đồng Vat.II dạy rằng: "Giáo Hội nhìn nhận bình ca là lối hát riêng của Phụng vụ Rôma; Vì thế, trong các hoạt động Phụng vụ, bình ca phải chiếm một địa vị chính yếu giữa những loại ca khác". Vì thế, Thánh Bộ Phụng Tự mong muốn: "các nhạc sĩ lấy bình ca làm nguồn cảm hứng cho đường hướng âm nhạc trong việc sáng tác của họ..."

1, Vì nhạc Phụng vụ phải lệ thuộc vào lời ca, nên nhạc đó phải diễn được ý nghĩa toàn câu, làm nổi bật vai trò của từng chữ trong câu. Đây chính là ưu điểm của bình ca đã thể hiện được. Nên bình ca được chọn lựa sử dụng trong Phụng vụ Rôma vì nó đáp ứng đúng việc bảo toàn và làm tăng ý nghĩa bản văn.

Thí dụ:

 

2, Bình ca thánh thiện trong cách chuyển hành. Đây là điểm người sáng tác phải học ở bình ca để giữ cho dòng ca có tôn giáo tính... Như chúng ta biết, chuyển hành có hai cách: chuyển hành lièn bậc (mouvement conjoint) là khi dòng ca lên xuống bằng quãng 2 thôi;

Thí dụ:

 

và chuyển hành cách bậc (mouvement disjoint) là khi dòng ca chuyển hành bằng quãng 3, 4, 5, 6.... Vậy:

3, Bình ca là lối hát tạo được bầu khí thanh thản và bình an. Vì nhịp điệu bình ca là bình thản, không thay đổi. Planus trong tiếng La tinh có nghĩa là nhạt nhẽo, nhưng đồng thời trong sự thanh thản, bình an là sự trang trọng và đẹp đẽ. Chúng tôi thển nghĩ, không biết đã có bài ca nào bằng tiếng Pháp hay tiếng Việt, hay tiếng nào khác đã đạt tới nghệ thuật cao cả như những bài bình ca La tinh được hát trong Phụng vụ canh thức Phục sinh: bài EXULTÉT; và bài ca chỉ có một lời duy nhất ALLELUIA.

4, Tuy nhiên,cần lưu ý câu nói "các nhạc sĩ phải cân nhắc xem ca điệu cổ truyền (bình ca) của Phụng vụ la tinh vẫn được sử dụng, trong mục đích này có thể giúp tìm được điệu ca mới cho bản văn thường ngữ", nghĩa là không phải cứ đơn sơ đem ca điệu bên này chuyển sang bên kia,Vì ca điệu một khi đã liên kết với nhịp điệu của một ngôn ngữ, sẽ không thể đem thích ứng một cách đơn sơ vào ngôn ngữ khác; cho nên phải khởi đi từ những yếu tố cổ truyền để tìm ra một hướng nhạc mới. Như vậy, khi bắt chước bình ca, người nhạc sĩ cần phải nhận định bắt chước ở điểm nào cho phù hợp với ngôn ngữ mình sử dụng. Huấn thị về Thánh Nhạc (3.9.1958), số 16,a đã lên tiến: "lingua cantus gregoriani est unice lingua latina". Vậy, hãy lấy nhạc đề bình ca, viết theo một nhịp mới, đặc biệt của mình, hay trái lại tìm những nhạc đề độc đáo, viết theo nhịp diệu bình thản của bình ca, như thế mới gọi là sáng tác. Có như vậy sáng tác mới có bình ca tính đích thực, chứ không phải là bình ca giả hiệu.

    1. Để bảo vệ tính thánh thiện của nhạc Phụng vụ, thì phải loại bỏ những yếu tố trần tục.

Không phải cái gì hợp với sở thích của một vài thành phần trong cộng đoàn là được phép sử dụng trong Phụng vụ, trong thánh đường. Bởi nếu cứ chiều theo sở thích thì đến bao giờ mới đáp ứng đầy đủ ? Mà sở thích thì luôn chủ quan và thay đổi. Chủ quan vì trình độ. Thay đổi vì nó thuộc cảm tính. Do đó, để loại trừ những lạm dụng và những yếu tố trần tục, nhằm bảo vệ nền Thánh Nhạc cao quí, Giáo Hội đã có những chỉ thị rõ ràng và gắt gao.

Sau khi người sáng tác thể hiện được tính thánh thiện, họ còn phải diễn tả bài ca bằng một hình thức tốt (Bonitas Formae). Hình thức tốt đẹp là chất lượng bài ca xét về mặt nhạc và lời ca.

  1. Chất lượng bài ca:

Đề cập đến chất lượng, tức là đề cập đến hình thức tốt đẹp của bài ca, tốt đẹp về lời ca cũng như về nhạc. Về lời ca, chúng ta sẽ nói đến trong chương 3 của phần này một cách chi tiết. Về nhạc, khi sáng tác, người viết phải lưu ý đến tất cả những yếu tố tạo thành. Vì chỉ bàn đến ca khúc phổ thông, nên chúng ta sẽ xét đến những yếu tố ấy trong phạm vi này thôi:

Hình thể bài ca, giai điệu, tiết điệu, và hòa âm; Tính văn chương của lời ca (nói sau).

  1. Hình thể bài ca:
  2. Theo Cha Kim Long, ca khúc phổ thông gồm tiểu khúc và điệp khúc. Tùy theo vị trí của điệp khúc hát trước hoặc hát sau mà ca khúc phổ thông chia làm hai mô hình: A – B hoặc A – B –A. Nhưng loại nào khi hát cũng phải kết thúc với điệp khúc.

    a. Điệp khúc: dùng cho ca đoàn hoặc cộng đoàn và được hát lại nhiều lần, nên:

    Lời ca: ý tưởng cô đọng, độc đáo và vượt trội.

    Nhạc: tùy theo đối tượng sử dụng mà viết cho thích hợp

    (một hay nhiều bè, một hay nhiều câu...)

    b. Tiểu khúc: thường dùng cho đơn xướng:

    Lời ca: phù hợp và quảng diễn, bổ túc ý của điệp khúc.

    Nhạc: nhẹ nhàng nhưng hoa mỹ hơn. Nhưng vẫn phải có kết cấu liên hệ với điệp khúc.

  3. Giai điệu: (Dòng ca – mélodie)

Phương pháp diễn tả cơ bản trong âm nhạc gồm: giai điệu, tiết tấu (nhịp điệu), hòa âm, nhịp độ, âm sắc, âm vực, cường độ... (bao gồm một quá trình sắp xếp, trật tự sau khi đã suy tính). Tất cả những phương pháp diễn tả cơ bản này đều liên quan chặt chẽ với nhau, thống nhất cùng một lúc với vai trò dẫn dắt của giai điệu. Vì thế giai điệu chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ phương pháp diễn tả của âm nhạc, bởi lẽ giai điệu tạo đường nét, hình tượng chính của tác phẩm. Khía cạnh quan trọng nhất của giai điệu là mối tương quan về độ cao thấp, độ dài ngắn của âm thanh cũng như mối tương quan về hòa âm, tiết điệu. Trong đó âm điệu (quãng) giữ vai trò quan trọng vì nó thể hiện bản chất của giai điệu.

    1. Âm điệu:

Bắt nguồn từ ngữ điệu của ngôn ngữ. Người sáng tác phải hiểu kỹ mối quan hệ này, và nhờ đó sẽ phát hiện sự khác biệt trong cách thể hiện giai điệu giữa các dân tộc khác nhau, từng vùng, từng địa phương khác nhau. Tất nhiên, âm điệu của ngôn ngữ (thanh điệu) và âm điệu âm nhạc có sự khác nhau về bản chất. Âm điệu âm nhạc là sự hình thành độ cao thấp chính xác của các âm. Âm diệu âm nhạc được biểu hiện bằng các quãng nhạc. Tính chất quãng nhạc sẽ ảnh hưởng đến tính chất của giai điệu.

Tâm lý hay bản tính các quãng, hay cảm giác các quãng gợi lên khi được nghe quãng đó chính là tính chất của quãng nhạc. Theo lịch trình tiến hóa của âm nhạc, quãng 3 bao gồm tất cả các quãng khác, cũng như màu trắng bao gồm các màu khác.

1, Quãng 3 trưởng: cảm giác vui tươi trong trẻo.

Quãng 3 thứ: cảm giác buồn bã, u tối.

2, Quãng 6 là quãng 3 đảo: cảm giác êm dịu. Quãng 3 vững chắc hơn, quãng 6 không vững, bấp bênh. (Bài Love Story)

3, Quãng 8 và quãng 5 được coi là hai quãng thuận hoàn toàn nghĩa là không có quãng nào thuận hơn hai quãng đó. Quãng 8 bên trên hay bên dưới làm cho dấu nhạc được âm vang đầy đặn.

4, Quãng 5 là quãng đúng, cho ta cảm giác tròn trĩnh, âm vang (quãng 5 tăng và giảm là quãng nhân tạo).

5, Quãng 4: là quãng 5 đảo lộn, nên cũng là quãng đúng, nghe quả quyết, không buồn không vui. Bài ca nào mà giai điệu thường sử dụng nhiều quãng 4, quãng 5 sẽ có màu sắc mềm dẻo, lơ lửng, thoang thoảng, không quá sầu.

6, Quãng 2: gồm quãng 2 trưởng (1 cung) và quãng 2 thứ (1/2 cung). Khi dòng ca dùng nhiều quãng 2 thứ, dòng ca sẽ tạo nên một cảm giác buồn ảo não, ủy mị, thích hợp với kịch trường.

7, Quãng 7: (quãng 2 đảo): đỡ nghịch, đỡ chói tai hơn quãng 2, vì khoảng cách giữa hai dấu tạo thành xa hơn. Nhưng vì chính tính cách cứng cỏi và bướng bỉnh mà quãng 7 rất thích hợp để diễn tả tâm trạng xao xuyến của con người ngày hôm nay.

8, Quãng kép cũng có tất cả những đặc tính của quãng đơn, thí dụ:

9, Quãng 9 có các đặc tính của quãng 2.

10, Quãng 10 có các đặc tính của quãng 3.

  1. Thang âm trong sáng tác:

Từ ngữ điệu của ngôn ngữ, nảy sinh âm điệu của âm nhạc. Âm điệu của âm nhạc phát triển và biến hóa qua các thời đại và các địa phương, tạo thành hệ thống thang âm của mỗi giai đoạn lịch sử âm nhạc và các dân tộc khác nhau. Vì thế, khi sáng tác, mỗi bài hát chỉ dùng một số âm nhất định, nếu sắp đặt những âm đó lại theo thứ tự từ thấp lên cao hay từ cao xuống thấp, ta có thang âm dòng ca của bài hát đó. Đây là lãnh vực của nhạc lý, nên cúng ta chỉ cần nhắc lại để nhớ khi sáng tác, mình chọn thang âm nào thì phải thống nhất chỉ dùng một thang âm đó từ đầu đến cuối bài ca.

  1. Thang âm 5 âm: (Trung Hoa gọi là: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ; Hội nhập Việt Nam được gọi là Hồ, Sừ, Xang, Xế, Cống, Líu):

Ta quen gọi hệ thống 5 âm là hệ thống ngũ cung (Việt Nam gồm nhạc các miền Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên; thang âm Nhật Bản cũng gồm 5 âm) nhưng có sự khác biệt đôi chút giữa thang âm có quãng 2 thứ và không có quãng 2 thứ:

  1. Thang âm nhạc cổ điển Tây Phương: Đây là thang âm phổ thông nhất, gồm bảy nốt khác tên nhau nên được gọi là thang âm biệt di. Với thang âm này, cần lưu ý:
  • THỂ của thang âm: Trưởng hoặc thứ, mỗi thể có đặc tính và âm hưởng riêng.
  • CUNG của thang âm: Nốt chủ âm (bậc I) được dùng gọi tên thang âm hay còn gọi là cung của thang âm.
  • Chuyển biến: Mỗi ca khúc được viết với một cung và một thể nhất định, nhưng đôi khi để tạo sự thay đổi, dòng ca có thể chuyển qua một cung hoặc một thể khác.
  1. Thang âm bình ca (thánh ca tiếng Latinh):

Còn gọi là ca đơn điệu, bình ca sử dụng thang âm bảy âm với cao độ như thang âm cổ điển Tây phương. Dấu hóa âm duy nhất được sử dụng lá Sib.

Âm vực từ Là tới Sol: là tầm cữ tiếng mà người bình thường có thể hát xuống trầm và lên cao được.

Trong thang âm có hai 1/2 có cung là Mi – Fa, Si – Do hoặc Sib – La (vì thang âm của Bình ca luôn được ghi ở cung Do), nên có tất cả các quãng tự nhiên. Nhờ đó người sáng tác dễ xoay sở, có thể tạo thành dòng ca phong phú. Hai nửa cung Mi – Fa / Si – Do hoặc Mi – Fa / Sib – La cách xa nhau, nên không có chuyện dòng ca chuyển hành một loạt nửa cung liên tục, nghĩa là với thang dấu bình ca, không có thể tạo được dòng ca ủy mị, nhưng cởi mở, lạc quan.

Bình ca cũng có âm thể. Người ta sử dụng bốn nốt khác nhau, lần lượt làm chủ âm RE – MI – FA – SOL và tạo ra bốn kiểu của thang âm khác nhau cũng gọi là 4 thể: Thể RE (Protus); Thể MI (Deuterus); Thể FA (Tritus); Thể SOL (Tetrardus).

Về Bình ca, còn nhiều điểm phải đề cập, chúng ta có thể nghiên cứu thêm trong tập "Mấy kinh nghiệm để viết thánh ca" của Cha Kim Long, và những tác phẩm bình ca từ xưa đến nay.

Lịch sử âm nhạc đã công nhận Bình ca là loại ca có giá trị thực sự. Bình ca đã để lại rất nhiều cung điệu thật hay, biết bao nhạc đề thật tuyệt, và đã trở thành nguồn hứng cho nhiều nhạc sĩ. Người sáng tác hãy tìm trong kho tàng ấy những chất liệu để khai thác.

  1. Tiết tấu:

Tiết tấu là một yếu tố quan trọng diễn tả âm nhạc, được phát triển rất sớm khi giai điệu và thang âm còn chưa định hình. "Nhạc giả dã, tiết dã" (Âm nhạc là tiết tấu, là nhịp điệu).

Theo nghĩa hẹp tiết tấu chỉ sự liên tục có tổ chức độ dài ngắn của âm thanh. Còn theo nghĩa rộng, tiết tấu là mối tương quan về thời gian giữa các phần, các chương khác nhau của một tác phẩm âm nhạc. Tiết tấu giữ vai trò quan trọng trong tính tạo hình của tác phẩm, thông qua tiết tấu ta có thể hiểu được ý tưởng của chủ đề bài ca. Nếu tước bỏ phần giai điệu, trong chừng mực nhất định, tiết tấu có thể tạo cho người nghe cảm nhận được âm hình đó thể hiện các sắc thái tình cảm vui vẻ, lễ hội, hoặc thôi thúc, hoặc u buồn, hoặc tha thiết van xin... thí dụ: nhạc khí gõ của các dân tộc người Châu Phi, Châu Á có thể biểu hiện được các tâm cảm khác nhau của con người.

Vai trò của tiết tấu trong một tác phẩm âm nhạc có hai ý nghĩa, tiết tấu dùng để tạo sự thống nhất của ý tưởng âm nhạc; đồng thời, tiết tấu là nhân tố tích cực cho sự phát triển ý tưởng của bài ca.

Trong ca khúc phổ thông, nhất là những bài viết cho cộng đoàn, cho thiếu nhi, các âm nhạc thường phải có một âm hình tiết tấu giống nhau để dễ thuộc, dễ nhớ và dễ hát. Trừ những trường hợp đặc biệt khi thay đổi trọng âm, người sáng tác mới tạo thành phách đảo có nghĩa là phách mạnh được chuyển trọng âm sang phách yếu. Thông thường luôn có sự luân phiên của phách mạnh nhẹ, theo tính chu kỳ, "tạo thứ tự trong chuyển động"

Tiết tấu bài thánh ca, theo Cha Kim Long, cần phải lưu ý: "thánh ca dùng để cầu nguyện nên phải tạo sự nghiêm trang, trầm lắng. Chính vì thế mà tiết tấu của Bình ca (với phách cơ bản là nối móc đơn ) và của thể hát Choral (với hình nốt cố định ) luôn được coi là mẫu mực". Ngoài ra, Cha Kim Long còn nhấn mạnh:

* Khi hát Thánh ca cần phải theo ý nghĩacủa từng chỗ mà diễn đạt mau chậm, nhanh nhẹ...

* Thánh đường không phải là phòng khiêu vũ. Vì thế Hội Thánh đặc biệt loại trừ những điệu phát xuất từ nhạc JAZZ mà hầu hết đều có tính cách kích động, huyên náo, nhất là thường được hình thành từ những vũ điệu dâm đãng.

  1. Hòa âm:

    Hòa âm là một trong những phương thế diễn tả phong phú và quan trọng nhất của âm nhạc. Hòa âm bổ sung và làm rõ nội dung của giai điệu. Chẳng hạn hòa âm của một phần nào đó trong bài ca thay đổi thường xuyên sẽ làm cho giai điệu trở nên căng thẳng, không ổn định. Ngược lại nếu hòa âm ít thay đổi, giai điệu thường có tính dàn trải, êm ả. Do đó, bản thân một giai điệu nào đó có thể thay đổi do sự thay đổi trong lối tiến hành hòa âm.

Dòng ca và tiết tấu lệ thuộc nhiều vào cảm hứng của cá nhân, hòa âm lại nặng về kỹ thuật, đòi hỏi sự học hỏi và thực tập nhuần nhuyễn. Hòa âm là một khoa học có những mẹo luật rõ ràng. Những bài thánh ca có nhiều chỗ thất luật hòa âm, mất đi vẻ đẹp hài hòa thì làm sao có thể đem dâng Chúa được.

Vì thế khi hòa âm các bài thánh ca cần phải tránh những nốt nhạc làm cho lời ca thành khác nghĩa, có khi thành lố bịch. Thông cáo số 2, mục 3c của UBTN. HĐGM.VN khuyến cáo tránh những gì cầu kỳ, phức tạp, khiến không nghe rõ bản văn Phụng vụ, nhất là đối với Tiếng Việt (còn nhiều khó khăn do thanh dấu tạo ra), nên hãy kiên trì tìm tòi, hy vọng sẽ hình thành được một khoa hòa âm độc đáo cho Tiếng Việt.

Cũng nên lưu ý khi hòa âm cho bài ca phải phân biệt, bài ca được phối âm cho đồng giọng hay dị giọng để tránh nhầm lẫn khi sử dụng.

  1. Âm sắc:

Một tiêu chuẩn cũng giữ một vị trí khá đặc biệt trong các cách thế diễn tả của âm nhạc: đó là âm sắc. Âm sắc là màu sắc của âm thanh. Có hai loại âm sắc chính là âm sắc của giọng người và âm sắc của của các loại nhạc khí khác nhau. Giọng người được phân thành giọng nam, giọng nữ. Giọng còn được chia ra thành giọng cao, giọng trung, và giọng trầm. Vì thế, người soạn ha phải tinh tế hơn trong việc lựa chọn các âm sắc để thể hiện cho bài ca của mình thêm phong phú và giàu hình tượng.

  1. Tính văn chương của lời ca (sẽ bàn ở phần sau):

 

  1. Tính phổ cập:

  2. Một bài thánh ca đạt được những tiêu chuẩn trên đây tất nhiên sẽ có tính phổ cập.

    Tính phổ cập là một trong những đòi hỏi mà Phụng vụ Giáo Hội đề ra cho một bài thánh ca: "Người nhạc sĩ hãy sáng tác những bản có cung điệu thánh nhạc thực sự, để không những các ca đoàn lớn có thể hát được mà còn hợp với cả ca đoàn nhỏ, giúp cho toàn thể cộng đoàn tín hữu cũng có thể tham dự một cách linh động"

    Thật vậy điểm thiết yếu của thánh ca Phụng vụ là phải đến được với bất cứ một cộng đoàn nào, phải tiếp cận được với hết mọi thành phần trong cộng đoàn : các tín hữu, các thừa tác viên trong thánh lễ, những người tham dự thường xuyên, hay thỉnh thoảng, người già hay người trẻ... Chắc chắn điều này chẳng bao giờ có thể thực hiện được một cách trọn vẹn. Thế nhưng người sáng tác cứ phải liệu sao cho bài thánh ca được phổ biến rộng rãi và có tính lâu dài. Muốn vậy cần phải truyền đạt bằng cách sử dụng một thứ âm nhạc mang tính cộng đồng, ngõ hầu mọi người tiếp nhận và sử dụng một cách dễ dàng để cầu nguyện và cử hành trong cộng đoàn. (Về mặt này các sáng tác của Kim Long và một số ca khúc của Hải Linh, đáng cho các nhạc sĩ học hỏi).

    Do đó chúng ta đừng lấy làm ngỡ ngàng vì có những bài ca mặc dầu nghệ thuật cao, nhiều nét hấp dẫn, nhưng quần chúng không đón nhận vì quá cầu kỳ, khó thực hiện hoặc vì một lý do nào đó: hoặc bài viết nhiều bè, nhiều giọng; hoặc buộc phải có dàn nhạc đệm kèm theo; hay chỉ dành cho một ca đoàn chuyên nghiệp, cho riêng một cộng đoàn chọn lọc mà chỉ với lý do: hợp với khả năng đòi hỏi nào đó hay một thị hiếu riêng về thẩm mỹ âm nhạc.

    Nói chung, một bài ca được viết ra, nếu đi đúng đường hướng Phụng vụ Giáo Hội, theo quy luật của Thánh Nhạc, vì lợi ích của cộng đoàn Phụng vụ, ứng dụng các kỹ thuật sáng tác theo quy ước quốc tế và cảm hứng từ quá trình cầu nguyện, thì chắc chắn sẽ phổ cập khắp nơi, vượt cả không gian lẫn thời gian và đâu đâu cũng được mọi người đón nhận. Dù là nhạc hay lời âm nhạc Phụng vụ phải mang tính cộng đoàn và bình dân.

  3. Được chuẩn nhận:

Để một bài ca mới sáng tác được phép sử dụng trong Phụng vụ của Giáo Hội, nghĩa là được công nhận là bài thánh ca, thì phải được giáo quyền chuẩn nhận. Cho dù sáng tác ấy đã đạt được tất cả những tiêu chuẩn nêu trên (nhạc và lời) mà chưa có sự phê chuẩn theo qui định của Giáo Hội thì vẫn không được sử dụng trong Phụng vụ, ngay cả để thử nghiệm. Giáo quyền là Đấng Bản Quyền sở tại (Đức Giám Mục hay những vị được quyền thừa ủy).

Đức Thánh Cha Piô X quy định: "Các Giám Mục phải thành lập trong giáo phận mình một ban gồm những người chuyên môn về Thánh Nhạc để kiểm duyệt các nhạc phẩm sử dụng trong Phụng vụ" Những người chuyên môn này thường hợp lại trong một Ủy Ban, gọi là Ủy Ban Thánh Nhạc Giáo phận.

Giáo luật 1917 khoản 1393 cũng viết: "Tại tất cả các Tòa Giám Mục phải bổ nhiệm các vị có chức vụ kiểm duyệt". Tân giáo luật khoản 823 thì viết: "Để các chân lý đức tin và phong hóa được vẹn tuyền, các chủ chăn trong Hội Thánh có nhiệm vụ và có quyền kiểm duyệt những gì đã viết ra về đức tin hay phong hóa". Khoản 824/2 còn viết: "Những gì được ấn định bởi các khoản trong tiết này về sách thì cũng áp dụng cho tất cả những gì viết ra để phổ biến công khai".

Việc kiểm duyệt Thánh Nhạc vẫn có trong Giáo Hội, là bổn phận và trách nhiệm của Giáo Hội trong việc bảo vệ tính thánh thiện và nghệ thuật, nhất là chân lý đức tin mà Thánh Nhạc trình bày, đồng thời duy trì và phát triển kho tàng lâu đời của Thánh Nhạc, để làm sao khi công nhận những sáng tác mới, thì những sáng tác này phải xứng đáng với truyền thống của Giáo Hội. Do đó khi kiểm duyệt, người kiểm duyệt chỉ thẩm định bài ca theo những tiêu chuẩn mà Phụng vụ đòi hỏi, cũng như những chuẩn mực Giáo Hội đã quy định.

Kiểm duyệt để giúp người nhạc sĩ biết luôn phải nhắm thẳng đến mục đích tối hậu của mình là Thiên Chúa, - Chân Thiện Mỹ Tuyệt Đối – Và khi sáng tác nhạc được luật Thiên Chúa hướng dẫn, thì công trình sáng tác sẽ không còn là thứ nghệ thuật bị cầm cương nhưng là nghệ thuật tự do thực sự, một thứ tự do giá trị hơn. Trong Hiến chế Docta sanctorum Patrum, ban hành tại Avignon, năm 1324, Đức Thánh Cha Gioan 22 nêu lên tôn chỉ là Giáo Hội không hất hủi những hình thức âm nhạc mới, miễn là phù hợp với Phụng vụ. Hiến chế Phụng vụ, số 123 viết: "Giáo Hội đã không hề coi một kiểu nghệ thuật nào như là của riêng, nhưng công nhận tất cả các kiểu của bất cứ thời đại nào, tùy theo đặc tính và hoàn cảnh của các dân tộc, cũng như tùy theo nhu cầu của các Nghi Lễ khác nhau; những kiểu nghệ thuật này, trải qua các thế kỷ, đã tạo nên một kho tàng nghệ thuật cần phải hết sức duy trì cẩn thận. Ngay cả những nghệ thuật trong thời đại chúng ta, nghệ thuật của mọi dân tộc và mọi miền, cũng phải được tự do thi thố trong Giáo Hội, miễn là vẫn giữ được vẻ tôn kính trang trọng phải có trong các thánh đường cũng như trong các nghi lễ thánh. Như thế, nghệ thuật đã có thể hòa giọng với bản nhạc vinh quang kỳ diệu mà các bậc vĩ nhân đã từng ca hát qua các thế kỷ để ca tụng đức tin công giáo".

Giáo Hội luôn khuyến khích việc sáng tác hơn là hãm cương: "Cha (ĐTC Piô XII) hy vọng, tất cả những ai trong Giáo Hội đang nắm giữ những hoạt động về âm nhạc hãy nhận ở thông điệp này một khích lệ và lòng hăng say mới để cổ võ việc tông đồ đặc biệt đó một cách quảng đại và kiên nhẫn". Thông điệp trên cũng dạy rằng: "Thực vậy những ai đã biết dùng tài nghệ riêng của mình mà sáng tác, sẽ nhận bởi tay Chúa Kitô phần thưởng dồi dào và những vinh dự dành riêng cho các tông đồ theo sự đóng góp nhiều ít của họ." Thiết nghĩ cổ ngữ xưa có thể áp dụng một cách nào đó trong trường hợp này: "Biết nhạc đến dạy được nhạc là hiền nhân. Biết nhạc đến sáng tác được nhạc là "Thánh nhân"."

Thực hiện các sáng tác mới theo những tiêu chuẩn trên đây, chắc chắn chúng ta thấy sáng tác đó sẽ có được những đặc tính:

Trong khi nhạc còn đòi hỏi một hình thức chu đáo, tại sao người nhạc sĩ lại không dùng một thứ áo đẹp đẽ, áo của nhạc và lời, để mặc cho những bài ca mà họ có ý dâng Thiên Chúa?

Chương 3: LỜI CỦA BÀI THÁNH CA: Nhạc vị lời.