PHẦN BA

VIỆC SÁNG TÁC NHỮNG THÁNH CA MỚI

Trong cuộc sống, ca hát, lắng nghe ca hát và có những bài ca hay để hát là những hoạt động liên kết chặt chẽ và mật thiết với nhau.Đó cũng là những nhu cầu đích thực của con người. Ca hát tuy không là cơm ăn, nước uống nhưng thiếu nó sẽ là một hạn chế đối với những ước mơ bay bổng của tâm hồn, những hy vọng tin tưởng, những niềm vui yêu thương và những nỗi u buồn sâu lắng. Lắng nghe ca hát tức là muốn mình suy nghĩ sâu sắc hơn về cuộc sống qua những bài hát, qua những âm thanh dài ngắn, trầm bổng khác nhau. Những âm thanh này giúp chúng ta phát huy trí tưởng tượng, óc sáng tạo phát minh, sự tư duy phong phú nhờ vào tính chất trừu tượng của nó gợi lên. Nhiều khi ca hát, hoặc lắng nghe ca hát không đủ đáp ứng, thỏa mãn những cảm xúc, khát vọng, suy nghĩ của ta, khiến ta bứt rứt bật lên những âm thanh mới hòa quyện với nhau thành giai điệu mới với tiết điệu mới để bày tỏ những gì chất chứa trong cõi lòng của ta. Phản ứng này là khởi đầu cho việc ứng tác và sáng tác những bài ca.

Sách Lễ Ký khiến ta khá rõ vấn đề này: "Khi tư tưởng chất chứa trong lòng thì ta muốn diễn tả thành lời, khi lời không diễn hết được ý nghĩa thì ta ngâm nga thành cung điệu, khi cung điệu không đủ để tỏ bày thì ta phụ họa bằng các cử động của tay chân". Hay theo cách nói nôm na "có đầy trong lòng mới tràn ra ngoài". Một tiếng reo vui của trẻ thơ mừng mẹ đi chợ về, giọng rao hàng sáng sớm hay tối khuya, một làn điệu ru con v.v… có thể đều được bộc phát trên môi bất cứ ai. Và từ đó những giai điệu mới ra đời. Ai cũng có thể tự biên tự diễn, tự sáng tác. Theo giáo sư Trần Văn Khê thì quyền sáng tác nhạc không chỉ trong tay một thiểu số mà trong tay của mọi người 1

Bất cứ cảnh vực đời sống nào, bất cứ không gian nào, thời gian nào, hay bất cứ một tâm tư tình cảm nào cũng có thể trở thành đề tài cho một bài hát.2

Trong đời sống Giáo Hội cũng thế, bất cứ một tín hữu nào cũng đều có thể hát và viết bài hát để diễn tả tâm tình của mình, để chia sẻ với cộng đoàn và để cùng nhau tạ ơn Đấng tình yêu. Thiên Chúa giàu lòng thương xót – đã ban cho con người và Giáo Hội "Lời Ca Muôn Thuở". Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Đời sống của Giáo Hội là gì nếu không phải là đời sống phụng vụ. Và " Phụng vụ là tột đỉnh qui hướng mọi hoạt động của Giáo Hội, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực của Giáo Hội... Chính phụng vụ, nhất là Lễ Tạ Ơn, như là nguồn mạch chảy tràn ân sủng vào trong chúng ta và làm cho con người được thánh hóa...Thiên Chúa được vô cùng tôn vinh".3

Phụng vụ chính là một môi trường tuyệt diệu vì phụng vụ vốn có sức gợi cảm và có thể cung cấp cho người nhạc sĩ nhiều khả năng để thực hiện các đường hướng chỉ đạo của Công Đồng Vaticanô II mà vẫn giữ được cá tính riêng của mỗi người.4 Vì vậy người nhạc sĩ có sứ mệnh kín múc nguồn cảm hứng nơi Phụng vụ mà Giáo Hội đã trân trọng gởi đến để có thể viết lên những bài ngợi ca cho Giáo Hội. Đây cũng chính là sứ mệnh cao cả Giáo Hội đã trao phó cho người nhạc sĩ.

Chương 1: SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI SÁNG TÁC.

Chương 2: TIÊU CHUẨN SÁNG TÁC.

Chương 3: LỜI CỦA BÀI THÁNH CA: Nhạc vị lời.

 

CHƯƠNG 1:

SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI SÁNG TÁC

 

Sáng tác nhạc chính là dùng những âm thanh được sử dụng trong âm nhạc và nối kết chúng lại với nhau để diễn tả một ý tưởng, một tâm tình của con người theo sự cảm tác và lựa chọn của người viết. Như vậy, sáng tác âm nhạc, trước hết phải là sự hiểu biết, cảm thấu và rung động của tâm hồn về một ý tưởng, một tâm tình nào đó rồi vận dụng năng khiếu nghệ thuật cũng như sự khéo léo về kỹ thuật sử dụng âm thanh để truyền đạt nó tới người khác. Sự truyền đạt này sẽ kéo theo một ảnh hưởng nhất định, tùy theo giá trị của sáng tác xét cả hai yếu tố giai điệu và lời ca. Tác phẩm càng có giá trị thì tác động càng lớn lao. Nhất là trong ca khúc, tác động của lời ca có phần nhỉnh hơn, đôi khi có tính quyết định, như trong Bình ca nói chung và các hình thể âm nhạc khác trong phụng vụ. Vì âm nhạc trong phụng vụ Giáo Hội Công Giáo là loại âm nhạc mà nhạc vì lời; lời có trước, nhạc có sau; nhạc là phương tiện để diễn tả lời. Nên vai trò của người nhạc sĩ công giáo viết thánh ca luôn được Giáo Hội trân trọng và đề cao vì họ làm phong phú thêm vị trị của âm nhạc phụng vụ, là thứ âm nhạc chỉ có một mục đích duy nhất: Tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa con người.

  1. Giáo Hội và các nhạc sĩ.
  2. Phẩm hạnh và khả năng của người sáng tác.
  1. Giáo hội và các nhạc sĩ:

  2. Thiên Chúa trao cho con người quyền làm chủ vũ trụ để tiếp tục công trình sáng tạo . Đức Kitô đã trao cho Giáo Hội sứ mệnh loan báo Tin Mừng để tiếp tục công trình cứu độ của Ngài. Cả hai công trình sáng tạo và cứu độ này vẫn được con người và Giáo Hội tiếp tục thực hiện cho đến ngày tận thế.

    Vì vậy Giáo Hội luôn cổ vũ những sáng kiến đưa con người đến nguồn Chân Thiện Mỹ, là chính Thiên Chúa, cũng như những nỗ lực đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Hạnh phúc của con người chính là vinh quang của Thiên Chúa. Hơn bất cứ một công việc nào khác, công trình của Thiên Chúa đòi hỏi những ai có khả năng hoàn thiện phải làm hết sức mình. Nghĩa là tiếp công trình của Thiên Chúa là hành động dâng lên Thiên Chúa phần tinh hoa nhất của con người và tài năng của họ. Phụng vụ lại là một môi trường tuyệt diệu (như vừa nói ở trên) để con người và Giáo Hội thực hiện lệnh truyền của Chúa. Trong môi trường ấy, thánh nhạc chiếm một vị trí trân trọng, mà theo ngôn ngữ hiện đại, là "sân chơi thánh" của người nghệ sĩ, nhạc sĩ.

    Ý thức vai trò của thánh nhạc trong Phụng vụ nói riêng, trong đời sống Giáo Hội nói chung, nên "không những Thánh Kinh, mà cả các Giáo Phụ và các Đức Thánh Cha luôn đề cao vai trò của Thánh Nhạc" và đương nhiên cũng đề cao vai trò của các nhạc sĩ. Vì họ là những người phụng sự Thiên Chúa bằng nghệ thuật.

    Thật vậy, Huấn thị "Thử Tìm Một Hướng Mục Vụ Cho Vấn Đề Văn Hóa" của Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa đã viết: "Mỗi công trình nghệ thuật chân chính đều có thể là đường đưa vào kinh nghiệm tôn giáo. Nhìn nhận nghệ thuật có một vai trò quan trọng trong việc đưa Tin Mừng vào hội nhập văn hóa cũng là nhìn nhận rằng trí khôn và tình cảm của con người có liên hệ rất mật thiết với sự thật và cái đẹp của mầu nhiệm Thiên Chúa. Giáo Hội luôn tỏ ra kính trọng sâu xa đối với các nghệ sĩ (các nhạc sĩ), bất luận họ theo tôn giáo nào, vì công trình nghệ thuật nào cũng mang dấu ấn của thế giới vô hình, cũng như mọi sinh hoạt khác của nhân loại; vì nếu là nghệ thuật chân chính thì phải nhìn xa hơn để thấy được mục tiêu cuối cùng của mình: sự cao quý mà nghệ thuật có được là do nghệ thuật là luôn hướng tới mục tiêu cuối cùng của con người.

    Giáo Hội khám phá thấy nơi các nghệ sĩ Kitô giáo cả một tiềm năng lạ lùng giúp Giáo Hội đưa ra những cách phát biểu mới...nhờ các thiên tài trong phụng vụ có sức sáng tạo đặc biệt..."

    "Kinh nghiệm từng cho thấy những khi không có điều kiện thuận lợi cho văn hóa đích thực phát triển, thì chính Giáo Hội Công Giáo đã đứng ra bênh vực văn hóa và nghệ thuật; nhiều nghệ sĩ (đương nhiên phải kể cả nhạc sĩ) đã tìm được chỗ đứng trong Giáo Hội để thể hiện hết sự tự do sáng tạo của mình. Vai trò lịch sử của Giáo Hội lúc nào cũng là vai trò tiên phong, đặc biệt trong mọi lãnh vực hội họa, kiến trúc, và âm nhạc tôn giáo. Khi kêu gọi các nghệ sĩ tham gia vào sinh hoạt Giáo Hội, Giáo Hội muốn mời họ canh tân nghệ thuật Kitô giáo"

    Giáo Hội mong muốn các nhạc sĩ sáng tác nhạc thế nào cho chúng vừa tầm với hết mọi người để mọi người có thể nhận ra sự siêu việt của tình yêu Thiên Chúa trong đó và từ đó đi tới chỗ cầu nguyện được. Công Đồng Vat.II đã không ngần ngại nói về điểm này và muốn ta phải luôn luôn thực hành các đường hướng chỉ đạo của Công Đồng: "Thế nên, cần nỗ lực hết sức để giúp các nghệ sĩ, (nhạc sĩ) cảm thấy họ được Giáo Hội thông cảm qua các tác phẩm nghệ thuật của họ và được Giáo Hội cổ võ, hãy quan hệ mật thiết hơn với cộng đoàn Kitô hữu, nhưng vẫn được sự tự do ở mức hợp lý..."

    Trải qua bao thời đại, Giáo Hội không ngừng tuyên dương những nhạc sĩ góp công vào việc xây dựng và thể hiện thánh nhạc, "Giáo Hội mở rộng cửa nhà thờ cho họ, sung sướng nhìn nhận sự hỗ trợ lớn lao mà nghệ thuật và những hoạt động của họ mang đến, để giúp cho công việc tông đồ của Giáo Hội được hữu hiệu"

    Để có thể chu toàn sứ mệnh đặc biệt này, người nhạc sĩ phải đáp ứng được những đòi hỏi của Giáo Hội: người nhạc sĩ phải luôn biết ý thức về Giáo Hội, phải có những phẩm hạnh cần thiết và khả năng chuyên môn xứng hợp.

  3. Phẩm hạnh của người sáng tác:

Đức Thánh Cha Phaolô VI trong bài diễn văn trước Đại Hội Thánh Nhạc do các nữ tu tổ chức tại Rôma năm 1972 đã nói: "Cha muốn gởi đến các con lời khuyên nhủ này là đối với các con cũng như đối với các linh hồn, mối bận tâm quan yếu của các con phải luôn luôn và trước tiên là biết ý thức về Giáo Hội, không có nó, thay vì giúp các linh hồn liên kết với nhau trong đức ái, âm nhạc có thể trở nên nguồn gốc sự bực dọc, chia trí, tục hóa và chia rẽ trong cộng đồng tín hữu. Đối với các con, ý thức về Giáo Hội, có nghĩa là tìm thấy những nguyên nhân thanh cao của hoạt động âm nhạc của các con trong sự vâng phục, trong sự cầu nguyện và trong đời sống nội tại. Ý thức Giáo Hội cũng có nghĩa là nghiên cứu sâu rộng những văn kiện của các Đức Giáo Hoàng và của các Công Đồng để có thể luôn luôn theo dõi các nguyên tắc hướng dẫn đời sống phụng vụ. Ý thức Giáo Hội sau cùng có nghĩa là phải tập nhận thức tất cả những gì liên quan đến âm nhạc trong phụng vụ. Không phải tất cả mọi sự đều có giá trị, không phải tất cả mọi sự đều hợp pháp, không phải tất cả mọi sự đều tốt lành. Ở đây việc thánh phải liên kết với điều tốt đẹp trong một tổng hợp hòa nhịp, và nhiệt thành, cho phép các công đồng khác nhau theo khả năng, biểu lộ hoàn toàn đầy đủ đức tin của mình để làm vinh danh Thiên Chúa và xây dựng nhiệm thể".

Như vậy, chúng ta có thể rút ra một số đòi hỏi mà Giáo Hội muốn người sáng tác phải đáp ứng trước khi đặt bút viết một bài thánh ca.

  1. Luôn biết ý thức về Giáo Hội, nghĩa là người sáng tác:
  1. Sáng tác trong cầu nguyện:

Bất cứ một tác phẩm nào trước khi ra đời, đều phải trải qua một quá trình "thai nghén", phải được nghiền ngẫm và cưu mang trong chính con người của tác giả, phải được nuôi dưỡng và đợi đến khi chín mùi. Bài thánh ca cũng không đi ra ngoài quy luật ấy. Hơn nữa bài thánh ca vượt lên trên các bài ca khác ngay ở bản chất của nó. Bài thánh ca chính là lời cầu nguyện của cộng đoàn dâng lên Thiên Chúa để tôn vinh Người, đồng thời bài thánh ca còn là phương thế thánh hóa cộng đoàn. Vì vậy trước khi là lời cầu nguyện của cộng đoàn, bài thánh ca phải là lời cầu nguyện của chính người sáng tác. Bài thánh ca phải được viết với tất cả con tim khối óc – con người toàn diện – của người sáng tác đang cầu nguyện, trong không gian và thời gian thấm nhuần cầu nguyện.

Đức Piô XII dạy: "Nghệ sĩ nào có đức tin vững chắc và đời sống xứng danh Kitô hữu, được thôi thúc bởi lòng yêu mến Chúa và sử dụng những năng khiếu Tạo Hóa ban theo lòng đạo đức của mình, sẽ cố gắng hết sức để biểu lộ và diễn tả thật khéo léo và tài tình thanh thoát... những chân lý mình tuyên xưng, lòng sùng kính mình ngưỡng mộ, khiến cho việc sử dụng nghệ thuật cao quý này, trở nên cho bản thân như một hành vi tế tự và tôn giáo và nghệ sĩ đó còn hỗ trợ mạnh mẽ và sinh động cho đức tin và lòng sùng kính của các tín hữu".

Trong đời sống nội tâm: Chúa Giêsu đã dạy "các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện không ngừng". Tỉnh thức để nhận ra dấu chỉ cứu độ và cầu nguyện để sống dấu chỉ cứu độ đó trong đời sống. Sự cầu nguyện này chỉ có được nơi người sáng tác biết sống nội tâm. Như Mẹ Maria "hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng", người nghệ sĩ muốn viết một bài ca mới, phải "vật lộn" với chủ đề mình muốn viết. Cuộc vật lộn này rất gay go và nhiều hy sinh. Có khi vật lộn cho đến lúc rạng đông, như Giacóp đã vật lộn với người khách lạ (với Thiên Chúa); có khi cuộc "vật lộn" đó kéo dài, và có thể kéo dài mãi. Đây là một cảm nghiệm của bản thân: có những bài chúng tôi chỉ viết chớp nhoáng, một hai ngày, cũng có khi cả tháng, và có bài được viết từ năm này qua năm khác. Sau mỗi bài được hoàn tất, người sáng tác sẽ cảm nhận được một niềm vui khó diễn tả và tâm hồn bình an lạ lùng. Đôi khi còn để lại dấu ấn, những kỷ niệm không quên được. Đó là những "dấu ấn hạnh phúc "những" thương tích hồng ân" Chúa ban tặng cho người nhạc sĩ, niềm vui của ân thưởng mà không thể có gì so sánh được.

Biết rằng con người là một hữu thể vừa cho vừa nhận. Nghĩa là những gì mình viết ra có thể mình chưa thấu đạt, hoặc chưa hoàn tất trong chính cuộc đời mình. Nhưng phải có để mới có chất liệu viết được. Vì thế ta có thể hiểu được "không ai cho cái mình không có".

  1. Khả năng chuyên môn:

Theo Linh mục Kim Long, nhạc sư, "sáng tác âm nhạc, trước hết là sự hiểu biết, cảm thấu và rung động của tâm hồn về một ý tưởng một tâm tình nào đó rồi vận dụng năng khiếu nghệ thuật cũng như sự khéo léo về kỹ thuật sử dụng âm thanh để truyền đạt nó tới người khác". Và Ngài nêu ra hai yếu tố quyết định để thể hiện việc sáng tác âm nhạc:

* Năng khiếu: Đây là khả năng thiên phú mà con người nhận được từ Thiên Chúa, nó có thể có ở người này mà không có ở nguời kia; nó có thể phong phú ở tâm hồn này mà mỏng manh ở tâm hồn khác,yếu tố này con người không thể tự đắc thủ, nhưng có thể nhờ học hỏi, rèn tập mà làm triển nở mỗi ngày một thêm lên. Thiếu yếu tố này, người ta vẫn có thể viết những bài ca, nhưng là những bài ca của một "người thợ", tuy đúng quy luật và phương cách đó, nhưng nó khô cằn và rỗng tuếch, khó có thể cảm hóa được ai.

* Kỹ thuật: Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật, được hình thành và phát triển qua thời gian, đã được nghiên cứu và hệ thống hóa. Nhất là về phương diện hòa âm – sự kết cấu và hòa hợp các âm – được dựa trên khoa âm học, với luật dội âm của thiên nhiên làm căn bản. Nên muốn sáng tác đạt tới mức hoàn hảo và có giá trị, tưởng không thể không biết những qui luật đã được công nhận. Đàng khác, kỹ thuật thành thạo sẽ giúp phát triển năng khiếu dễ dàng và đa dạng hơn".

Như vậy muốn viết một bài Thánh ca, người sáng tác trước hết phải có năng khiếu (có sở thích và sở trường âm nhạc) và sau là khả năng chuyên môn. Để có khả năng chuyên môn, trước hết là phải "hiểu biết đầy đủ về phụng vụ trên phương diện lịch sử, tín lý hay giáo lý, một kiến thức thực hành về "chữ đỏ". Muốn đáp ứng được những đòi hỏi này họ phải được huấn luyện tương xứng về phụng vụ; qua trường lớp đào tạo, qua học hỏi và nghiên cứu các sách vở liên quan...Nhất là "phải có kiến thức sâu xa và nắm vững lề luật của nghệ thuật thánh nhạc".

Khả năng chuyên môn là sự thành thạo những kỹ năng sáng tác: những hiểu biết căn bản về các môn học liên quan, như hòa âm, đối âm, tẩu pháp, kỹ thuật sáng tác, các hình thể âm nhạc đời và đạo, lịch sử âm nhạc, nghiên cứu các tác phẩm, có trình độ lý luận và cảm thụ văn học nghệ thuật nói chung và các tác phẩm âm nhạc nói riêng...Khi "đọc" một bài thánh ca mẫu mực, biết được cái đúng cái hay ở chỗ nào... để làm giàu thêm kinh nghiệm sáng tác. Khả năng chuyên môn phải thường xuyên được nâng cao qua sự khiêm tốn lắng nghe góp ý, qua sự hăng say lao động nghệ thuật trong "tinh thần tông đồ" và "thái độ phục vụ nhưng không". Bài thánh ca được đón nhận nồng nhiệt hay chưa được đón nhận thì người sáng tác cũng cứ kiên nhẫn chờ đợi. Bởi vì một trong những tính chất quan trọng và đặc biệt của âm nhạc là bản chất thời gian (nghệ thuật động). Chính vì vậy khi âm nhạc vang lên ta không thể ngừng lại phía sau mà sự trình bày phát triển là liên tục để thể hiện đường tiến lên của nội dung hình tượng, của ý tưởng âm nhạc. Nên thời gian chờ đợi, sàng lọc cũng rất cần thiết để thẩm định bài ca mới được viết có giá trị ra sao.

Để có thể thẩm định được có phải là một bài thánh ca hay không, người sáng tác cần lưu ý một số tiêu chuẩn sau đây (được đề cập đến ở chương 2).

Chương 2: TIÊU CHUẨN SÁNG TÁC.

Chương 3: LỜI CỦA BÀI THÁNH CA: Nhạc vị lời.