Phần II:

CA HÁT CỘNG ĐOÀN

Khi xác định "Ca hát góp phần cần thiết hoặc trọn vẹn trong phụng vụ trọng thể" (Số 112), Hiến chế phụng vụ nhắc lại sự quan tâm của toàn thể Giáo Hội được thể hiện qua truyền thống âm nhạc phụng tự đối với việc ca hát của cộng đoàn. Truyền thống này khởi đầu ngay từ buổi bình minh của Cựu ước. Vì "Giáo Hội dù được khai sinh thời Tân ước, nhưng Giáo Hội đã được thai dựng từ thời Cựu ước qua những phác thảo vừa mang tính chuẩn bị vừa mang tính tiền trưng" Và truyền thống Giáo Hội còn tiếp tục mãi cho đến ngày Đức Kitô – Lời – ca – muôn – thưở – quang lâm như CĐ. Vat. II đã tuyên nhận: "Từ thủy nguyên, Giáo Hội được tuyên báo bằng hình bóng được chuẩn bị cách kỳ diệu trong lịch sử dân Ít – ra – en và trong Giao ước cũ, được thành lập trong thời cuối cùng, và được biểu hiện lúc Chúa Thánh Thần hiện xuống, rồi đến ngày tận thế sẽ hoàn tất trong vinh quang" (LG số 2). Và trên hành trình của Giáo Hội, ca hát cùng đồng hành với nhịp điệu của lịch sử cứu độ. Thật vậy lần giở những trang Cựu ước và Tân ước, lúc nào chúng ta cũng nghe thấy, cảm thấy lời ca tiếng hát vang lên trong cuộc sống của Giáo Hội. Khi được diễn xướng, những lời ca hát ấy phát xuất từ toàn thể con người và từ mọi người họp nhau trong cộng đoàn, nhất là trong cộng đoàn phụng tự, để thờ phụng, chúc tụng, ngợi khen Thiên Chúa. Lời ca tiếng hát còn nhắc cho dân của Chúa nhớ đến những phép lạ vĩ đại Chúa đã thực hiện. Những phép lạ vĩ đại này đánh dấu những thời điểm quan trọng của lịch sử cứu độ. Những thời điểm đó đã trở nên những ngày lễ hội của dân tộc Ít – ra – en. Và yếu tố ca hát không thể thiếu được trong những thời gian này: thời gian của Chúa (để thờ phượng) và của con người (để quần tụ trong vui mừng và bồi bổ sức mạnh cho những cuộc chiến đấu mỗi ngày).

Vì thế ta có thể nói được rằng thờ phượng Chúa và ca hát luôn song hành với nhau. Đọc Sử biên niên quyển 1, chương 25, người ta ghi nhận Vua Đa – vít đã thiết lập nền âm nhạc dùng trong việc phụng tự nơi đền thờ. Việc thờ phượng sẽ phải lôi kéo toàn thể con người và ca hát sẽ hỗ trợ để nâng tâm tưởng và cảm xúc của con người hướng tới Thiên Chúa. Qua ca hát chúng ta có thể suy tư về những nhu cầu và những thiếu sót của chúng ta, cũng như mừng kính các kỳ công của Thiên Chúa (kỳ công sáng tạo và kỳ công cứu chuộc).

Đến thời Tân Ước, qua những tài liệu cổ xưa cho ta thấy thánh Phao lô đã quan tâm việc ca hát và cộng đoàn phụng vụ của các tín hữu những thế kỷ đầu đã hưởng ứng lời kêu gọi nhủ khuyên của Ngài khi dùng lời ca tiếng hát để diễn tả kinh nguyện của mình. Ngoài các thánh vịnh, thánh ca Cựu Ước, các tín hữu còn hát thánh ca Tân Ước. Có lẽ Giáo Hội tại Côrinhtô, những người được đặc sủng đã hát lên những bài ứng tác. Đàng khác, các thư của thánh nhân còn để lại những vết tích các bài ca phụng vụ của các giáo đoàn tiên khởi. Nối tiếp cộng đoàn tiên khởi, Giáo Hội qua bao thế kỷ vẫn quan tâm dùng ca hát để diễn xướng những tâm tình của mình mỗi khi cử hành phụng vụ.

 

Chương 1: CA HÁT TRONG PHỤNG VỤ.

Chương 2: LÀM SAO THÁNH CA CÓ THỂ GIÚP CẦU NGUYỆN.

 

CHƯƠNG 1:

CA HÁT TRONG PHỤNG VỤ

Khi cử hành phụng vụ, các tâm tình: thờ phượng, ca ngợi, đền tội và cầu khẩn rất hòa hợp và ăn khớp với nhau: hợp một lòng, một ý, một tiếng dâng lên Thiên Chúa. Các tâm tình này càng được nêu bật khi được diễn tả bằng việc ca hát của cộng đoàn. Thật vậy, kinh thánh, các giáo phụ, các Đức Thánh Cha không những đã khen ngợi những bản thánh ca trong phụng vụ, mà còn nhắc lại những lý do biện minh cho việc quan tâm ca hát:

  1. Diễn tả niềm vui và tăng rẻ long trọng.
  2. Bày tỏ và củng cố sự hiệp nhất của cộng đoàn.
  3. Đáp lại lời Thiên Chúa .

Thật ra những lý do này chính là những giá trị sâu xa của kinh nghiệm con người ở khắp nơi, trong bất cứ nhóm xã hội nào và ở bất cứ nền văn hóa nào.

  1. DIỄN TẢ NIỀM VUI VÀ TĂNG VẺ LONG TRỌNG:
  1. Ca hát được coi như là dấu hiệu của sự vui mừng, và cũng là một phương thức biểu lộ niềm vui, rất tợp với tinh thần tạ ơn, như thánh Giacôbê đã khuyến khích: "Có người vui ư? Hãy hát xướng lên một bài vãn" (5,13). Và cũng theo chiều hướng đó, cộng đoàn thiên quốc dùng lời hát để diễn tả lòng biết ơn và ca ngợi Đấng Cứu Thế (X, Kh 4,8.11; 5,9-10; 14,3; 15,3-4; 19, 1-8; v.v…)
  2. Điều thánh nhân khuyến khích "hãy hát lên" khi vui mừng, là điều rất tự nhiên của con người. Có niềm vui, con người không những chỉ thể hiện qua nét mặt và điệu bộ mà còn mãnh liệt hơn biểu lộ qua tiếng hát. Bởi vì phát xuất từ lời nói, nhưng tiếng hát mang lại cho lời nói sự diễn cảm phong phú: hợp với lời nói, tiếng hát có thể tiếp sức và mang lại chiều kích đích thực cho tất cả tình cảm nhân loại .

    Trong các loại tình cảm của con người, vui mừng là điều nhân loại luôn ước mơ và cảm nghiệm . Vui mừng chính là ân huệ nhưng không, dư tràn, vô vị lợi của Thiên Chúa ban cho con người. Khi cử hành phụng vụ con người không những gặp gỡ, đối diện với Thiên Chúa – Đấng Tuyệt Đối, mà còn là một cuộc hiệp thông với Một Thiên Chúa là Nguồn Suối chan chứa niềm vui, một "Thiên Chúa vui thích ở giữa con cái loài người" ( )

    Hơn nữa, mỗi khi con người trong cộng đoàn phụng vụ cùng nhau lắng nghe Kinh Thánh, "thì Mạc Khải của Thiên Chúa sáng tạo và cứu chuộc khơi trong lòng người một niềm vui vỡ bờ. Làm sao có thể chiêm ngắm công trình sáng tạo mà không cao rao: "phần tôi, tôi vui mừng trong Chúa" (Tv 104,34) và không mong ước cho "Thiên Chúa được vui thỏa trong các công trình của Ngài" (Tv 104,31)? Trước tôn nhan Thiên Chúa đang hành động trong lịch sử, lòng người ngay lành tràn ngập vui sướng (Tv 92,5) và muốn chia sẻ (diễn tả ra bên ngoài cho người chung quanh) niềm vui đó: "Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa, tung hô Người là Núi đá độ trì ta" (Tv 95,1); "Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng … hãy reo mừng trước tôn nhan Chúa" (Tv 96,11.13). Và sở dĩ Thiên Chúa đến là cốt để kêu mời các tôi trung và mở lối cho họ vào hưởng niềm vui của Ngài. (Mt 25,21b).

    Ngay trong cuộc đời, Thiên Chúa cũng đã ban cho con người biết bao niềm vui. Niềm vui khiêm tốn của người chồng bên cạnh người vợ yêu quý (Gv 9,9) khi nhìn thấy kết quả công lao của mình (3,22), khi ăn uống cũng như lúc nhàn rỗi (2,24; 3,12t). hoặc niềm vui thỏa mà người vợ duyên dáng và đức hạnh đem lại cho chồng (Cn 5,18; Hc 26,2.13), là hình ảnh của những niền vui thanh cao nhất (Is 62,5); còn đối với vợ chồng, sự đông con nhiều cháu là nguồn hoan lạc (1Sm 2,1.5; Tv 113,9; x. Ga 16,21), nhất là khi con trai họ lại khôn ngoan (Cn 10,1). Bên cạnh những niềm vui ồn ào của các ngày đại lễ (x 1V1,40; 1Sm 18,16) hay tù nhân hồi hương (Tv 126, 2t), còn có những niềm vui khác thầm kín đến nỗi người ta không thể thông truyền cho người xa lạ (Cn 14,10) v.v… Cao hơn nữa là những niềm vui của giao ước: vui khi trung thành với giao ước, đặc biệt là niềm vui của phụng tự cộng đoàn. Trong việc phụng tự, cộng đoàn tìm thấy niềm vui ca tụng Thiên Chúa (Tv 33,1), niềm vui của anh em xum họp (Tv 133), niềm vui lên đền thánh Chúa (Tv 120) mà trong đó nổi bật niềm vui của tôi trung. Người tôi trung chia sẻ cho mọi người niềm vui của sự thưởng nếm "Lời Chúa là hoan lạc tâm hồn họ" (Gr 15,16); họ đặt niềm vui trong Thiên Chúa (Tv 33,21;37,4; Gl 2,23) và trong lề luật của Ngài (Tv 19,9) là kho tàng (Tv119,14; 111) là an vui của họ giữa cơn lo âu (Tv 119;143) và họ đã được Chúa hé cho thấy những viễn tượng của niềm vui vinh cửu (Tv 16,9): niềm vui cánh chung (x. Is 35; 45; 61; 65; v.v…). Ta còn phải kể đến niềm vui của Phúc Âm, đó là niềm vui cứu độ mà Đức Giêsu Kitô loan báo và ban cho những người hèn mọn bằng hy tế của Người. Trong các tác giả Tin Mừng, Luca là vị mô tả rõ ràng hơn bầu khí tươi vui đầy ơn cứu độ, đó là bầu khí của Tin Mừng sự sống (xem các trình thuật thờ thơ ấu của Chúa Giêsu). Không những con người được hưởng niềm vui cứu độ mà còn được hưởng niềm vui của Thần khí, hoa trái của thập giá (Ga 15,9-15; 14,28; 16,20-24; Rm 14,17; Gl 5,22; v.v…) và niềm vui của cuộc sống mới để rồi được thông phần niềm vui vĩnh cửu. Đó sẽ là sự tỏ lộ và sung mãn của niềm vui toàn hảo đã được dành cho con cái Thiên Chúa từ bây giờ (x. Kh 18,20; 19,1-4.7 và 1 Ga 1,2; 3,1.24).

    Và chắc chắn niềm vui toàn hảo ấy phải được diễn tả qua lời ca tiếng hát để ca tụng và tạ ơn Thiên Chúa: "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi" (Lc 1,46). Sự ca tụng và tạ ơn này phát sinh từ thái độ kinh ngạc và khâm phục trước tôn nhan Thiên Chúa được diễn tả qua một tiếng kêu, một lời cảm thán, một lời reo mừng, để rồi dần dần dễ dàng biến thành bài hát, bài tụng ca, thường có âm nhạc và vũ điệu kèm theo (Tv 33,2; x. Tv 98,6; 1 Sbn 23,5).

    Ca hát để ca tụng đồng thời cũng để tạ ơn vì nhiều lẽ. Tạ ơn vừa là ý thức các hồng ân Thiên Chúa, vừa là sự bộc phá của tâm hồn, vừa là lòng tri ân hân hoan trước vẻ cao cả Thiên Chúa. Việc tạ ơn giữ vai trò chính yếu trong Kinh Thánh, và là nội dung nổi bật của lời ca hát. Các cách biểu lộ lòng biết ơn thật quá dồi dào như các thánh ca trong Luca đoạn 1 và 2, cũng giống như một vài thánh ca trong Cựu Ước, được khởi hứng qua bao suy niệm lâu dài và sốt sắng về các biến cố Chúa đã thực hiện trong lịch sử cứu độ.

    Chính tâm tình tạ ơn và lời ca tạ ơn đó có sức gợi lên những cảm xúc mãnh liệt và tỏa ra bên ngoài tạo nên bầu khí lễ hội và một khí thế khải hoàn như trong phụng vụ Do Thái ngày xưa.

  3. Tăng vẻ long trọng:

Ca hát không những điễn tả niềm vui mà còn làm cho các nghi thức tăng thêm vẻ long trọng. HCPV số 113 đã viết: "Hoạt động phụng vụ mang một hình thức cao quý hơn khi các việc phụng tự được cử hành một cách long trọng, với tiếng hát do các thừa tác viên có chức thánh chủ sự và giáo dân tích cực tham dự". Như vậy mặc nhiên Giáo Hội nhấn mạnh đến tính cách lễ hội của hoạt động phụng vụ.

Tính cách này thật ra đã có từ thời Cựu Ước. Lễ hội, tiếng Do Thái là HAG, tiếng Hy Lạp là HEORTÊ với nghĩa nguyên thủy là "Ca Vũ Hội". Vì thế bản chất của Lễ Hội Do Thái là NIỀM VUI. Lễ Hội vừa là dịp để thờ phượng và tạ ơn Thiên Chúa (LỄ), vừa là dịp để tụ họp, hội hè, vui chơi, ăn uống (Hội). Trong tiếng việt, LỄ được giải thích là những nghi thức được tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện có ý nghĩa nào đó, Và Hội là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người đến dự, theo phong tục hay phong trào.

Theo ý nghĩa đó, thì Lễ Hội Do Thái gắn liền với chu kỳ tự nhiên của mùa màng, nhưng về sau lại gắn liền với một số biến cố lịch sử đáng nhớ, rồi dần dà gắn liền với những biến cố trong lịch sử cứu độ. Những nghi thức cũ bắt đầu mang một ý nghĩa mới. Một nét đáng lưu ý là luật pháp Do Thái buộc ngặt mọi người, từ 12 tuổi trở lên, phải "xuất hiện trước mặt Chúa" vào 3 lễ hội lớn trong năm: lễ BÁNH Không Men, lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều. Xem ra Môsê đã biết hội nhập văn hóa từ lễ Vượt Qua là lễ cầu an, cầu thịnh vượng cho người và cho xúc vật… để biến thành một lễ kỷ niệm cuộc giải phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ Ai Cập. Để tô thêm màu sắc trang trọng của Lễ Hội Vượt Qua, chính ông Môsê đã cùng với con cái Ít – ra – en hát mừng Đức Chúa Bài ca xuất hành 15,1-21 kèm theo nhịp trống và điệu múa. Nhiều người cho rằng bài ca này là một bài ca cổ nhất được ghi lại trên thế giới. Đó là thiên sử thi có tính cách lễ hội tưởng nhớ cuộc chiến thắng của Thiên Chúa, có sức nâng tâm hồn và cung giọng của dân chúng hướng lên Chúa khi thờ phượng và cử hành nghi lễ.

Lời của bài ca này đã được linh mục nhạc sĩ Hoàng Kim phổ nhạc một cách tài tình, khi hát lên người ta cảm nhận được một bầu khí lễ hội long trọng và khải hoàn:

Nối tiếp truyền thống Cựu Ước, Giáo Hội Công giáo luôn để tâm đến tính cánh long trọng của cử hành phụng vụ, và coi mỗi ngày là một ngày lễ hội, vì ngày nào cũng là "ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỉ" (Tv 118, 24). Bởi thế, không kể những ngày lễ lớn như Giáng sinh, Phục sinh, Lễ Các thánh … ngày nào trong tuần Giáo Hội cũng mừng lễ. Vì thế, trong ngôn ngữ phụng vụ của Giáo Hội, các ngày trong tuần đều được gọi là FERIA, như Feria prima (Dies Dominica), Feria secunda, Feria tertia… Feria sexta, chỉ ngày thứ bảy vẫn giữ nguyên tên cũ là SABBAT của Cựu Ước. Chữ FERIA trong văn hóa La Tinh xưa tương đương với "ngày nghỉ lễ" của thời nay. Cách gọi như vậy cho thấy mọi ngày trong năm phụng vụ ngày nào cũng là ngày lễ. Lễ hội Công giáo luôn gắn liền không bao giờ tách rời với việc cử hành TẠ ƠN (Thánh lễ). Tùy theo Lễ Hội lớn hay nhỏ, mà Thánh Lễ được cử hành trọng thể hay bình thường, hay nói một cách nôm na bình dân, "Thánh lễ hát" hay "Thánh lễ đọc". Mà "Thánh lễ hát" cũng có nhiều cấp độ khác nhau, hát hết, hay hát một phần, tùy theo sự long trọng muốn tăng lên nhiều hay ít do bản chất của ngày lễ Giáo Hội quy định.

Trong cuộc sống con người hôm nay ca hát luôn giữ một vai trò cần thiết cho Lễ hội. Lễ hội càng long trọng ca hát càng được đầu tư để làm cho lễ hội khởi sắc và ấn tượng. Bởi vì ca hát, chơi âm nhạc, nhảy múa là những cử chỉ của con người khi vui hội.

Qua những gì nêu trên, ta cũng dễ hiểu tại sao ca hát và âm nhạc được Giáo Hội đề cao trong các cử hành phụng vụ, nhất là Lễ Chủ Nhật vì ca hát luôn gắn liền với lễ hội. Lời ca làm cho các lời nói vượt ra ngoài công dụng thường nhật của nó. Ca hát nói lên sự ung dung, thư thái, thanh thản. Và nhất là âm nhạc làm cho con người vượt lên trên tính duy dụng và vẻ lý trí của những lời nói và những cử chỉ. Bởi vậy ca hát trở thành yếu tố tất nhiên và tự nhiên của lễ hội, và người ta thấy ca hát trong tất cả mọi dịp hội hè lễ bái. Xét như là sự trang trí về âm thanh, hoặc như hình thức biểu lộ, hoặc xét như là động lực của ca vũ, hoặc như là biểu tượng của tính hiệp nhất của cộng đoàn, ca hát luôn được coi là phần chủ chốt của cử hành phụng vụ.

  1. BÀY TỎ VÀ CỦNG CỐ SỰ HIỆP NHẤT CỦA CỘNG ĐOÀN:

Thiên Chúa triệu tập dân người trong một cộng đoàn duy nhất là Giáo Hội. Thế nhưng cộng đoàn đó lại mở rộng cho tất cả mọi người từ muôn phương, không phân biệt thành phần ưu tú xét về khả năng trí tuệ, cũng như về đời sống thiêng liêng, về tuổi tác, về nghề nghiệp, hay hoàn cảnh sống, cả những người tội lỗi hay hoàn hảo cũng được triệu tập như nhau. Cộng đoàn phụng vụ rất phức tạp: Có người đến vì thói quen, có người vì tình cảm tôn giáo thúc đẩy, có người tha thiết lo lắng tìm kiếm Thiên Chúa… Nhưng mọi thành phần phải tạo nên một dấu chỉ, là "Bí tích của Hội Thánh" nơi cộng đoàn phụng vụ mình đang có mặt. Bởi đâu mọi người khác biệt trong xã hội (và ngay cả khác biệt trong phẩm trật Giáo Hội) lại có thể hiệp nhất nên một?

Được Lời Thiên Chúa triệu tập và thức tỉnh, con người tham dự kiến tạo cộng đoàn Hội Thánh. Nhờ Thánh Thần tác động, người ta đáp lại lời Thiên Chúa và tiến tới cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa mở ra đời sống cộng đoàn, tạo nên mối hiệp thông giữa các nhân vị, giúp khám phá tính cộng đoàn khi mọi người cùng hát. Tiếng hát của ca đoàn không thể nào lấn át tiếng hát của cộng đoàn. Cùng lắm ca đoàn giữ vai trò nền tảng cho buổi phụng vụ, chứ không hát thay thế cộng đoàn. Phụng vụ kêu gọi hát vì ca hát là phương tiện bình thường tạo nên mối hiệp nhất. Hòa tiếng hát với tất cả cộng đoàn, mỗi người nhận thấy mình đang dự vào cùng một hơi thở, chung một sức sống. Hơi thở ấy phát sinh tự đáy lòng, mỗi người kêu lên: "Áp-ba, Cha ơi!". Như vậy ca hát là một cách thể hiện đức tin của cộng đoàn, một đức tin duy nhất. Nhờ giai điệu và nhịp điệu, tiếng nói của nhiều người được hợp nhất thành một tiếng nói duy nhất, và sự đồng thanh nhất trí.

Bài điễn giải Phúc âm 5 của Thánh Gioan Kim Khẩu đọc trong nhà thờ thánh nữ Irênê, tự Constantinopoli, có đoạn: "Bài Thánh vịnh mà chúng ta vừa cùng nhau hát, đã hòa các tiếng của chúng ta lại, và làm bay lên trời một bài ca rất du dương: già và trẻ, giàu và nghèo, phụ nữ và nam nhi, người tự do và người nô lệ, tất cả chỉ có cùng một tiếng ca… Tất cả chúng ta đã cùng nhau làm thành một ca đoàn duy nhất trong sự hoàn toàn bình đẳng về quyền lợi và phát biểu, nhờ đó trái đất này đã bắt chước trời cao. Đó là sự cao quý của Giáo Hội".

Để giúp hiểu rõ hơn công dụng của ca hát trong việc bày tỏ và củng cố sự hiệp nhất của cộng đoàn, Tác giả Michel Veuthey đã lấy thực tại xã hội giải thích. Ngài viết: "Trong xã hội, sự kiện cùng nhau ca hát sẽ nói lên sự gắn bó chặt chẽ của nhóm. Đúng thế, tất cả những hành vi cùng nhau thực hiện, như cùng bước, cùng làm, cùng nhau nói một lời, đều mạnh mẽ nói lên sự sống của tập thể và ý thức của sự gắn bó. Khi các thành viên của nhóm cùng nhau ca hát, thì họ có cảm tưởng hiệp nhất với nhau hơn là khi cùng nhau nói lên một lời. Đúng thế, nhịp điệu của âm nhạc giúp người ta phát biểu đều với nhau hơn, âm điệu buộc mọi người phải hát cùng một giọng như nhau, cả khi bài ca là đa âm, mỗi người hát một phần trầm bổng khác nhau, thì sự hòa điệu càng làm nổi bật sự các phần cần đến nhau để tạo thành bài ca tuyệt diệu! Như vậy, lời ca giúp cho người ta cảm thấy tính hiệp nhất của nhóm. Nhóm ca hát có thể để nói lên sự hiệp nhất của mình đối với người ngoài, nhưng vô tình hay hữu ý, việc ca hát đó vẫn củng cố sự gắn bó của nhóm. Dù đó là cùng nhau ca hát khi tập họp chính trị hay tôn giáo, sự cùng nhau ca hát, nhất là khi cùng nhau bước đi, cùng nhau hô lớn, cùng nhau mang đồng phục, bao giờ cũng là phương thế để củng cố sự đồng tâm nhất trí, để củng cố và lôi cuốn những thành phần nào còn đang thờ ơ. Giá trị của những hành động như thế được nhận thấy nơi những kết quả mà chúng ta có thể kiểm chứng nơi những thứ nhóm cuồng tín, cũng như nơi những tập hợp có sự tự do sâu xa bên trong tâm hồn".

  1. ĐÁP LẠI LỜI THIÊN CHÚA.

Khi dáp lại lời Thiên Chúa, ca hát làm cho lời cầu nguyện được đằm thắm, dịu dàng hơn:

Ngạn ngữ "Ai hát hay là cầu nguyện gấp đôi" nhắc nhớ cho chúng ta một lý do nữa của việc ca hát trong phụng vụ. Thật vậy Phụng vụ đã trù liệu để hát tất cả các bản văn, nhất là những bản văn dành cho cộng đoàn khi đáp lại lời Thiên Chúa. Thánh vịnh, điệp ca, đáp ca, mang tính chất thi ca, nên cần âm điệu. Còn các lời nguyện, nhất là kinh Tạ ơn, cũng đòi hỏi âm điệu, vì bản chất những kinh Tạ ơn là những thánh thi. Xưa khi phụng vụ Rôma chú trọng làm cho các lời nguyện đọc lên nghe du dương. Do đó, phụng vụ cố gắng sử dụng các từ ngữ vừa chính xác diễn tả đức tin, vừa phong phú biểu lộ tình cảm của cộng đoàn phụng vụ, (nay nhấn mạnh đến giá trị tư tưởng phong phú hơn là tình cảm, nên quá cô đọng và khô khan). Những dẫn chứng trên đây mở ra cho chúng ta 2 cấp độ khác nhau giữa nói và hát cùng một nội dung.

Cũng tác giả Michel Veuthey nhận định rằng: "Lời nói thi vị gợi lên những âm vang trong tâm hồn người nghe. Giá trị thi vị của các từ ta dùng sẽ tùy thuộc vào nhịp phát âm, vào âm điệu của các nguyên âm và âm vang của các phụ âm. Các tính chất này sẽ tăng lên rất nhiều hoặc bị giảm đi do sự uyển chuyển của các từ trong câu nói. Khi một bản văn được phổ nhạc, dù là thứ âm nhạc đơn sơ như nhạc kể truyện, thì âm nhạc sẽ làm tăng rất nhiều các giá trị nội tại của bài đó. Bởi vì, với âm nhạc, lời ca sẽ làm cho các vần của mỗi từ kéo dài hơn là khi nói suông; các giọng lên xuống được khai thác tối đa do âm điệu; các nhịp điệu của câu văn cũng được âm nhạc làm gia tăng một cách có lợi; sau cùng, hòa điệu (hòa âm) sẽ gia tăng chất lượng tâm tình của nội dung lời nói. Có thể người ta sợ rằng khi âm nhạc hay sẽ làm lu mờ ý nghĩa phụng vụ… Thực ra bài ca là một toàn thể phức tạp, với nhiều yếu tố, và người hát cũng như người nghe không luôn ý thức được tất cả các yếu tố đó. Người ta nhận thấy bài ca là một thực tại âm vang, nhưng mỗi người vẫn có thể ưu tiên chú ý đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của bài ca: bởi vậy khi bài ca có vẻ bị mất mát về phương diện này, thì nó được lợi rất nhiều về phương diện kia. Đôi khi nội dung của bài ca có thể ít rõ ràng hơn của một bài đọc, nhưng sức cảm hứng của nó lại lớn hơn nhiều. Qua lời ca, những phần sâu kín nhất của tâm hồn ta có thể được rung động, và đó là công việc mà nội dung của các lời nói, các bài đọc, không thực hiện nổi".

Như vậy, bằng nhiều cách khi đáp lại lời Thiên Chúa, lời ca Phụng vụ đã trở thành dụng cụ tối hảo để loan truyền, lặp lại, đào sâu và tiếp nối Lời Thiên Chúa, và nhờ đó, sau khi ở nhà thờ ra về, Lời Chúa vẫn âm vang trong cuộc đời của các tín hữu và tác động vào xã hội. Kinh nghiệm mục vụ cho thấy, sau buổi lễ, 2 thành phần được nhắc nhớ, in sâu là bài giảng của linh mục và bài hát của cộng đoàn vừa trình bày. Đôi khi lời ca được lặp đi lặp lại trong cuộc sống đến thuộc lòng.

Cái nhìn trên đây, xét về phương diện nhân bản và văn hóa cũng như về phương diện phụng vụ, cho ta thấy ca hát mang lại cho lời nói những chiều kích mới, vì sẽ thêm cho lời nói sức rung cảm và khả năng hiệp thông của cộng đoàn. Nếu lời ca được gắn liền với lời nói trong phụng vụ do địa vị đặc biệt của nó, thì lời ca lại không thể tách rời khỏi âm nhạc. Chính thánh Augustinô đã cho biết hiệu quả khôn lường của sức mạnh này đối với dân chúng, khi Ngài viết: "Thánh Ambrôsiô sáng tác những bài ngợi ca… và chỉ dậy cách hát thánh vịnh trong các lễ nghi phụng vụ khiến dân chúng luôn tham dự cách tích cực"; còn đối với bản thân, Ngài xác nhận: "Những lời ca thâm nhập trái tim, nước mắt con chảy tràn, niềm hạnh phúc chứa chan. Con đã khóc khi nghe những bài ngợi ca, những ca khúc khiến con rung động thâm sâu bởi những giọng hát du dương vang lên trong Hội Thánh Chúa. Con thấy phải ca ngợi việc dùng âm nhạc trong Hội Thánh, bởi vì âm nhạc làm khoái cảm lỗ tai, nâng đỡ những tâm hồn yếu đuối, khơi dậy lòng nhiệt thành và đạo đức…".

Tóm lại, "Việc cử hành phụng vụ sẽ mặc hình thức trang trọng hơn khi được thực hiện bằng lời ca: thừa tác viên phải chu toàn chức năng của mình và dân chúng phải tham dự vào đó. Thậy vậy, dưới hình thức ca hát, lời cầu nguyện tỏ ra sâu sắc hơn, mầu nhiệm phụng vụ cùng với các đặc điểm phẩm trật và cộng đoàn của nó sẽ được bày tỏ rõ ràng hơn. Sự hiệp nhất các tâm hồn sẽ đạt tới mức sâu xa hơn với sự cùng nhau chung tiếng hát. Tâm trí chúng ta sẽ dễ dàng từ các vẻ đẹp của lễ nghi thánh bay bổng lên tới các thực tại vô hình. Sau cùng, tất cả việc cử hành sẽ tượng trưng cách rõ ràng hơn cho lễ nghi trên trời, được củ hành nơi thành Giêrusalem mới".

Qua những điều trên đây, chúng ta đã hiểu ca hát trong phụng vụ giữ một vai trò quan trọng về mục vụ cho tín hữu. Vậy chúng ta phải quan tâm đến những yếu tố nào để việc ca hát có chất lượng, đặc biệt trong cộng đoàn phụng vụ ngày chủ nhật.

Chương 2: LÀM SAO THÁNH CA CÓ THỂ GIÚP CẦU NGUYỆN.