1. Âm Nhạc và Mục vụ Phụng vụ:

Lịch sử âm nhạc Kitô giáo nói chung và thánh nhạc phụng vụ Kitô giáo nói riêng là một đề tài phức tạp và dài hơi. Có hai vấn đề đã lộ ra trong nền âm nhạc phụng vụ của Cựu Ước cũng như Tân Ước và chúng có thể cho ta một cái sườn để xem xét quá trình phát triển của thánh nhạc trong phụng vụ Kitô giáo. Một là, mối quan hệ giữa ca, nhạc sĩ nghiệp dư và ca, nhạc sĩ chuyên nghiệp; hai là, mối quan hệ giữa lời của các bản văn phụng vụ và âm nhạc phụ họa.

  1. Giới hoạt động âm nhạc nghiệp dư và giới hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp:

  2. Như đã ghi nhận ở phần trên, có mối quan hệ chặt chẽ giữa nền quân chủ và các nhạc công chuyên nghiệp ở nước Israel cổ đại. Dường như nền quân chủ đã tạo ra lý do và cung cấp điều kiện để lập ra các nhạc công chuyên nghiệp. sự xuất hiện các nhạc công chuyên nghiệp phục vụ đền thờ đã đem lại hai tác động đáng kể cho nền phượng tự chính thức. Một là, phụ nữ dần dần bị loại ra khỏi hàng ngũ chỉ đạo chính thức về âm nhạc. Tuy giới phụ nữ đã từng giữ vai trò trọng tâm trong đời sống âm nhạc nghiệp dư của Israel cổ đại, kể cả nền phượng tự của nước này, thế nhưng khi đẳng cấp Lê-vít ra đời thì phụ nữ bị ngăn lại không cho tham dự vào việc chỉ đạo âm nhạc trong phượng tự nữa. Hai là, việc diễn tấu âm nhạc dần dần được chuyển từ tay quần chúng sang tay những người chuyên nhiệp: vai trò của các nhạc công chuyên nghiệp càng được xác định rõ thì thường dân càng ít được dự phần vào hoạt động âm nhạc ở đền thờ.

    Cũng có thể ghi nhận được những bước phát triển tương tự trong lịch sử thánh nhạc Kitô giáo. Không bằng chứng nào cho thấy sự có mặt của các ca sĩ, nhạc sĩ chuyên nghiệp trong phụng vụ Kitô giáo trước thế kỷ IV. Tuy nhiên, cuộc hôn phối giữa Kitô giáo và đế quốc La Mã ở thế kỷ IV đã làm xuất hiện những người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp. Giống như các Lê-vít tiền bối, giới chuyên nghiệp này co được một địa vị đặc biệt trong phẩm trật đang phát triển của Hội Thánh Kitô giáo. Song song với sự xuất hiện của những người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp trong Kitô giáo còn có hai bước phát triển mà trước kia đã từng xảy ra trong Israel cổ đại, đó là: phụ nữ bị loại khỏi hàng ngũ chỉ đạo âm nhạc phượng tự, và việc diễn tấu âm nhạc được chuyển dần từ quần chúng sang những nhà chuyên nghiệp. Suốt nhiều thế kỷ các nhóm người chuyên nghiệp đã xuất hiện và cầm trịch trong hoạt động thánh nhạc. Phụ nữ không được nhận vào hàng ngũ này. Ngoài ra sự hiện diện liên tục của giới chuyên nghiệp này thường làm che lấp lời ca tiếng hát của dân chúng trong hoạt động thanh nhạc của Giáo Hội. Hiếm thấy những nhà chuyên nghiệp dung nạp giáo dân thay vì những người cùng giới chuyên nghiệp vào hoạt động thánh nhạc phụng vụ. Những canh tân phụng vụ ngày nay đã cố gắng uốn nắn lại những bước phát triển này bằng cách lưu ý mọi người rằng một trong những vai trò then chốt của những người hoạt động thánh nhạc chuyên nghiệp là nâng đỡ lời ca tiếng hát của cộng đoàn vốn là thành phần quan trọng đối với thánh nhạc. Vì thế, không thể gạt phụ nữ ra khỏi việc chỉ đạo hoặc tham gia thánh nhạc phụng vụ của Giáo Hội.

  3. Lời bản văn và nhạc đệm:
  4. Kitô giáo thừa hưởng Do Thái giáo lòng yêu chuộng ngôn từ. Tự bản chất, âm nhạc Kitô giáo là thanh nhạc và mục đích tiên quyết của nó từ trước đến nay là phục vụ ngôn từ. Nói chung khí nhạc không được phép sử dụng cho đến thời Trung Cổ. Nhiều loại bản văn khác nhau được nâng đỡ bằng tiếng nhạc, bao gồm những kinh nguyện cố định hoặc ứng tác, những bà đọc trích từ Kinh thánh, những thánh vịnh trong hoặc ngoài Kinh thánh và các tụng ca (hymns). Tuy phần nhạc đệm đã từng thấy có sự bộc phát bay bướm, hoa mỹ, nhưng nhìn chung âm nhạc bằng giọng người (thanh nhạc) của Giáo Hội trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất có tính chất quy hướng về ngôn từ và trau chuốt để phục vụ cho ý nghĩa của bản văn. Bình ca Gregory là một trong những cách thể hiện đáng kể nhất đối với loại nhạc quy hướng ngôn từ này.

    Ở đầu thời kỳ Trung Cổ có hai bước phát triển góp phần làm suy yếu truyền thống âm nhạc này, tức là làm cho âm nhạc không còn phục vụ lời ca như trước nữa. Một là, vào thế kỷ thứ 9, các linh mục có khuynh hướng đọc suông các lời ca. Do đó có thể xảy ra là linh mục cử hành toàn bộ nghi lễ Thánh Thể, tức Thánh lễ, mà không hề có lời ca tiếng nhạc. Bước phát triển này góp phần làm mất đi mối quan hệ chặt chẽ giữa lời ca và tiếng nhạc trong phụng vụ. Trước thời điểm này không ai dám nghĩ đến việc sử dụng một văn bản nào đó vào phụng vụ mà không có ít nhiều chất diễn xướng căn bản ấy. Kể từ sau khi có bước thay đổi này, giáo dân có thể phân biệt được Thánh lễ nào là lễ "hát", Thánh lễ nào là lễ "đọc".

    Hai là, nhạc đa âm xuất hiện, góp phần làm mờ nhòe văn bản vì loại nhạc này đưa thêm vào hai hàng nhạc có lời hoặc nhiều hơn nữa. Thế có nghĩa là đôi khi một văn bản phụng vụ được ca diễn bằng rất nhiều giọng người với những tiết điệu và cao độ khác nhau. Có lúc nhiều văn bản khác nhau được hát lên bàng nhiều giọng khác nhau với nhiều tiết điệu và cao độ khác nhau.

    Hai hiện tượng này làm suy yếu vai trò truyền thống của âm nhạc là trợ thủ cho lời kinh phụng vụ. Đối với cộng đoàn, tình hình này còn tồi tệ hơn nữa vì các văn bản phụng vụ chính thức đều được hát bằng tiếng Latinh. Các nỗ lực canh tân phụng vụ gần đây đã phục hồi các nguyên tắc truyền thống của Kitô giáo, yêu cầu có sự dễ hiểu trong các văn bản phụng vụ và nhấn mạnh đến vai trò của âm nhạc là hỗ trợ chứ không phải làm mờ nhòe các bản văn phụng vụ.

  5. Những vấn đề liên hệ đến thánh nhạc trong công cuộc canh tân phụng vụ:

Quá trình phát triển phụng vụ của Kitô giáo trải qua nhiều thời kỳ với những cuộc canh tân: canh tân phụng vụ tại giáo triều Rôma và tại các địa phương (1200-1564); ưu thế chữ đỏ và cuộc canh tân phụng vụ thời công đồng Trentô (1563-1903); phong trào canh tân phụng vụ trước công đồng Vaticanô II (1903-1962). Như thế phụng vụ không ngừng được canh tân. Nhưng trong lịch sử, trước Vaticanô II chưa có Công Đồng nào lại dành cả một Hiến chế để bàn tới phụng vụ, với một thời gian khá lâu để chuẩn bị, thảo luận và biểu quyết. Hơn nữa văn kiện đầu tiên được bàn luận, biểu quyết và công bố (trong 16 văn kiện) lại chính là Hiến chế về phụng vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium).

Hiến chế phụng vụ đã trình bày một nền thần học về Phụng vụ, cũng như nêu lên cuộc canh tân toàn diện phụng vụ mà Đức Piô XII đã mong muốn. Hiến chế trao cho Hội Đồng Giám Mục địa phương nhiều quyền hạn để thích nghi phụng vụ vào môi trường văn hóa địa phương. Để cho giáo dân tham dự phụng vụ tích cực, ý thức và hiệu quả, Công Đồng dù vẫn giữ tiếng La-tinh làm ngôn ngữ chính, đã cho phép sử dụng tiếng địa phương.

Để phát huy hoạt động về mục vụ phụng vụ, Hiến chế đã dành hẳn chương VI (từ số 112 đến số 121) để bàn về Thánh nhạc.

Hiến chế Phụng vụ số 112 viết: "Truyền thống âm nhạc của toàn thể Hội Thánh đã kiến tạo nên một kho tàng vô giá, vượt hẳn mọi nghệ thuật khác, nhất là vì điệu nhạc thánh đi liền với lời ca, góp phần cần thiết hoặc trọn vẹn trong phụng vụ trọng thể.

Thực vậy, không những Thánh Kinh mà cả các giáo phụ và các Đức Thánh Cha đã khen ngợi những bản thánh ca, nhất là các Đức Thánh Cha trong những thời đại gần đây, tiên phong là thánh Piô X đã làm sáng tỏ rõ ràng hơn vai trò thánh nhạc trong phụng tự.

Do đó, thánh nhạc càng liên kết chặt chẽ hơn với họat động phụng vụ bao nhiêu thì càng thánh hơn bấy nhiêu, diễn tả lời cầu nguyện cách dịu dàng hơn, cổ võ sự đồng thanh nhất trí, lại làm cho các nghi lễ thêm phần long trọng. Do đó, Hội Thánh chuẩn nhận và cho dùng trong phụng vụ tất cả mọi hình thức nghệ thuật đích thực, miễn là có những đặc tính cần thiết.

Vì thế, trong khi vẫn duy trì những quy tắc, luật lệ của truyền thống và qui luật trong Giáo Hội, cũng như nhằm mục đích của Thánh Nhạc là làm vinh danh Chúathánh hóa các giáo hữu, Thánh Công Đồng đã ấn định những điều sau đây". 1

Công Đồng Vaticanô II đã thừa nhận những giá trị của thánh nhạc trong Hội Thánh, và dựa vào những văn kiện quan trọng, như tự sắc "Tra le sollicitudini" (1903), thông điệp Musicae sacrae (1955), và huấn thị Musica sacra (1958)" mà ấn ấn định những nguyên tắc canh tân Thánh Nhạc.

Để cụ thể hóa những nguyên tắc canh tân thánh nhạc, các huấn thị đã ra đời để có những chỉ dẫn thiết thực trong quá trình thực thi Hiến chế Phụng vụ. Ngày 5.3.1967: Huấn thị "De Musica in sacra Liturgia" (Thánh nhạc trong phụng vụ) của Thánh Bộ Phượng Tự. Ngày 5.9.1970: Huấn thị "Liturgicae Restaurationes" cũng của Thánh Bộ Phượng Tự. Ngày 24.6.1972: Sách hát lễ: Missale Romanum, Ordo Cantus Missae.

Như vậy cuộc canh tân thánh nhạc vẫn xây dựng trên hai đặc tính căn bản mà Đức Piô X đã đề ra: thánh thiện và hình thức tốt đẹp. Riêng đặc tính phổ cập (universelle) không còn được nhắc tới từ sau Công Đồng Vaticanô II vì Giáo Hội tôn trọng những đặc tính riêng biệt của mỗi ngôn ngữ; đồng thời Giáo Hội muốn tôn trọng và khuyến khích phát triển truyền thống âm nhạc riêng của các dân tộc2. Trong cuộc canh tân lớn lao này, Giáo Hội xác lập những nét chính yếu của thánh nhạc:

1, "Phải hết sức lo lắng duy trì và cổ võ kho tàng thánh nhạc" 3. Cũng như Đức Piô X 4, Giáo Hội đề cao bình ca (theo trường phái Solesmes) như một điểm tựa để canh tân nhạc phụng vụ. Trong các kho tàng cổ và quan trọng nhất thuộc thánh nhạc, trước hết phải kể đến thánh ca phụng vụ trong các nghi thức phương Đông mà các giai điệu đã ảnh hưởng to lớn đến việc hình thành các thể loại thánh nhạc trong Hội Thánh phương Tây" 1. Thánh nhạc trong Hội Thánh phương Tây chính là nhạc "Rôma cổ", là nhạc được sử dụng trong các vương cung thánh đường cho đến thế kỷ 13. Đây chính là "Nhạc bình ca" được phổ biến rộng rãi ở phương Tây nhờ cuộc cải tổ phụng vụ do hoàng đế Carôlô Cả khởi xướng, còn để lại nhiều tuyệt tác.

2, Giáo Hội nhìn nhận "Bình ca" là lối hát riêng của phụng vụ Rôma 2, và khuyến khích các tín hữu sử dụng Bình ca khi cử hành phụng vụ, vì lối hát này giúp họ dễ dàng tham dự cử hành phụng vụ. Lời hát này còn tạo được bầu khí thanh thản và bình an, đồng thời cũng rất quan trọng với các tín hữu khắp hoàn cầu.

3, Các loại thánh nhạc khác, nhất là loại đa âm vẫn được trân trọng 3, miễn là đáp ứng được tinh thần của hoạt động phụng vụ. Tinh thần này là "phát huy việc tham gia linh động, cần phải cổ võ những lời tung hô của dân chúng, những lời đối đáp, những bài ca vịnh, tiền khúc, thánh ca…" 4

4, Sau khi được nghiên cứu cẩn thận, bản mẫu các sách hát bình ca phải mau chóng hoàn thành việc ấn loát và phổ biến 5. Đồng thời cũng phải liệu có một loại sách hát gồm những âm điệu đơn sơ, để giúp cho toàn thể cộng đoàn tín hữu sử dụng được 6.

5, Thánh ca bình dân phải được khéo léo cổ võ để tín hữu có thể ca hát lên 7. Thánh ca bình dân là loại Phụng ca (những bài dùng trong Phụng vụ, lời dựa trên văn bản Phụng vụ) và loại Thánh ca (những bài ca, lời không dựa trên bản văn phụng vụ nhưng đã được giáo quyền cho phép hát trong khi cử hành phụng vụ.

6, Phải quý trọng và dành cho âm nhạc truyền thống dân tộc một địa vị thích hợp, theo tinh thần của số 39, 40 Hiến chế phụng vụ .

7, Ngoài đại phong cầm là nhạc cụ chính của Giáo Hội, các nhạc khí khác cũng được phép sử dụng vào việc phụng tự tùy theo phán đoán và phê chuẩn của Thẩm quyền địa phương .

8, Các sáng tác phải đáp ứng yêu cầu: – về nhạc phải có cung điệu thánh nhạc thực sự, - còn lời thánh ca phải thích hợp với giáo thuyết công giáo và tốt hơn cả là rút ra từ Thánh Kinh và các nguồn mạch phụng vụ .

9, Để có thể nắm được các điều trên đây, nghĩa là thấu đáo đường hướng thánh nhạc và thực thi đúng chức năng của thánh nhạc, cần phải chú trọng đến việc huấn luyện và thực tập âm nhạc trong các cơ sở đào tạo của Giáo Hội; các nhạc sĩ, ca sĩ, nhất là các thiếu nhi, cũng phải được huấn luyện cho có đủ căn bản phụng vụ.

Như cuối phần trên (số 3.2: Lời văn và nhạc đệm) đã nói, các nỗ lực canh tân phụng vụ vẫn luôn đề cao các nguyên tắc truyền thống của Kitô giáo: nhạc vị lời, lời mới là quan trọng chứ không phải nhạc. Những nỗ lực ấy vẫn còn được nối tiếp để làm sao cho thánh nhạc luôn khởi sắc. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, một lần Ngài nhắc lại sự quan tâm không mệt mỏi của Giáo Hội về thánh nhạc, khi Ngài viết: "Khi hiểu rõ được tính cách riêng biệt và tầm quan trọng của thánh lễ Chúa nhật trong đời sống tín hữu, ta phải chuẩn bị thánh lễ bằng một sự quan tâm đặc biệt. Trong những hình thức được đề nghị bởi sự khôn ngoan về mục vụ và những thói quen địa phương, phù hợp với những tiêu chuẩn phụng vụ, ta phải nắm chắc rằng việc cử hành này có tính cách "lễ hội" phù hợp với ngày tưởng nhớ sự sống lại của Chúa Giêsu. Để đạt được mục đích này, vẫn phải quan tâm nhiều đến việc hát của cộng đoàn, vì việc này rất thích hợp để diễn tả niềm vui trong lòng, nhấn mạnh được tính cách trang trọng và thúc đẩy việc chia sẻ cùng một đức tin và một tình yêu. Vì vậy, phải quan tâm đến chất lượng của việc ca hát, cả về lời cũng như về nhạc, sao cho các sáng tác, mới được thực hiện thời nay, đáp ứng được những đòi hỏi của phụng vụ, và xứng đáng với truyền thống của Giáo Hội vì Giáo Hội có thể tự hào có cả một gia sản vô cùng lớn lao về lãnh vực này".

Những lời dạy trên đây cũng là những gợi ý cho nội dung: thánh nhạc và những vấn đề cần quan tâm, mà chúng tôi mong ước trình bày trong tập này.